BÀI 3: TIẾNG VIỆT
THỰC HÀNH SỬ DỤNG ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
Bài tập 1. Các điển cố được dùng trong đoạn trích:
– “Dời củi khỏi bếp tranh – Dùng dâu ràng cửa tổ”: Dẫn điển trong Hán thư (Trung Quốc), ý nói phòng ngừa từ trước để tránh những hậu hoạ.
– “Bồng môn”: Cửa liếp lều tranh, chỉ sự nghèo hèn; đối với “tiêu thất” ở sau: buồng lụa, phòng son, chỉ sự quyền quý, cao sang.
– “Mười điều”: Là mười điều tấu sớ của Trình Diên trong Hán thư, Bích Châu muốn bày tỏ mười điều quan tâm, lo lắng của mình về việc cai trị đất nước.
– Một số điển khác như: “Nén kẻ quyền thần”, “Phạt Trụ diệt Khương” trong Sử kí,
“Thải bớt kẻ nhũng lạm”, “Trừ gian diệt bạo” trong Sử kí, “Cổ động Nho phong”, “Nhân nghĩa lễ trí tín” trong Tứ thư,…
Bài tập 2. Nhận xét về tác dụng của việc dùng điển cố trong đoạn văn:
– Các điển cố được sử dụng: Đố Phụ, Tiêm Đài, vợ họ Trương, tù nước Sở, Li tao,...
– Hình thức: Tên người, tên đất, tên sự kiện, tên tác phẩm,...
– Nội dung: Các điển cố trên đều gợi liên tưởng đến thân phận bi kịch, oan trái mà người phụ nữ có tài năng, đức hạnh phải chịu đựng.
– Tác dụng: Tăng tính biểu cảm (thể hiện tâm trạng bi thương, sầu uất của nhân vật); tăng sức thuyết phục (hiểu biết lịch sử và văn hoá, khiến lời nói của nàng thêm xác tín); tăng tính nghệ thuật (lời văn trau chuốt, mượt mà và giàu sức gợi); thể hiện ý đồ của tác giả (kiến thức uyên bác, hiểu biết sâu rộng về văn hoá và lịch sử của tác giả);...
Bài tập 3
– “Hoa Quả Sơn” và “Thuỷ Liêm Động” là hai điển cố.
+ Hoa Quả Sơn: Tên ngọn núi trong tác phẩm Tây du kí của Ngô Thừa Ân, là nơi sinh sống của Tôn Ngộ Không. Đây là một ngọn núi hoang vu, hiểm trở, nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã.
+ Thuỷ Liêm Động: Tên hang động trong tác phẩm Tây du kí, là nơi ở của Tôn Ngộ Không. Đây là một hang động bí ẩn, sâu thẳm.
– Tác dụng:
+ Giúp người đọc hình dung ra khung cảnh hoang vu, hiểm trở.
+ Thể hiện tâm trạng lo lắng của nhân vật ông Diểu.
Bài tập 4
Điển cố đặc biệt phổ biến trong văn chương thời trung đại vì:
– Tư tưởng coi trọng chuyện xưa, người xưa, thái độ yêu thích cổ xưa và thói quen dẫn trích sách vở, kinh truyện.
– Thơ văn cổ thường có quy định chặt chẽ về số câu số chữ, súc tích, ý tại ngôn ngoại (ý ở ngoài lời), việc dùng điển là một trong những lựa chọn tối ưu để gửi gắm thông điệp.
– Quan niệm “văn chương công khí” (văn chương là sở hữu chung) thời trước (khi người viết văn, làm thơ chưa có ý thức về tác quyền) nên mọi người tự cho mình có quyền chỉnh sửa tác phẩm của người khác để thưởng thức riêng.
=>Từ đó, hình thức sáng tác theo lối “tập cổ”, “phỏng cổ” trở nên khá phổ biến.
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Nhiều người quan tâm
Bài viết gần đây
Danh mục
Để lại bình luận