BÀI 4: YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG TRUYỆN KỂ
VĂN BẢN 1: HẢI KHẨU LINH TỪ (Đền thiêng cửa bể)
Vấn đề 1. Đề tài và cốt truyện
– Đề tài: Quá trình thống nhất giang sơn của các triều đại phong kiến, sự kiện lịch sử diễn ra ở đời Trần và đời Lê.
– Cốt truyện: chuỗi sự kiện gắn với các yếu tố văn hoá, tín ngưỡng về đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu.
Vấn đề 2. Nhân vật
1. Hệ thống nhân vật trong truyện: vua Trần Duệ Tông, Bích Châu, các phụ lão, Giao thần, vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Trọng Ý, Lương Thế Vinh, Quảng Lợi vương,…
- Nhân vật chính là nàng Bích Châu.
2. Nhân vật Bích Châu
– Lời giới thiệu về lai lịch, chân dung: Nguyễn Cơ – cung phi triều Trần, con gái nhà quan, tên chữ Bích Châu, tính tình đoan trang, dung nhan tươi tắn, thông hiểu âm luật,…
=> Cách mở đầu trực tiếp, ngắn gọn theo phương pháp truyền thống của văn học trung đại, tạo cảm giác chân thực.
– Đối thơ với vua: thông minh, giỏi thơ văn.
– Lời can gián, suy nghĩ và hành động của nàng Bích Châu:
+ Lời can gián: Bích Châu thấy chính sự quốc gia tiếp theo thói tệ thời Hôn Đức nên ngày càng suy kém, bèn viết bài biểu Kê minh thập sách dâng lên. Khi nhà vua muốn dấy binh thảo phạt Chiêm Thành đang quấy phá bờ cõi, Bích Châu dâng biểu can gián, khuyên vua nên rộng lượng, dừng việc binh đao để dân chúng được yên vui.
=> Bích Châu là con người vừa có tính cách cương trực, vừa có lòng bao dung, thương yêu dân chúng, ghét cảnh chiến tranh.
+ Suy nghĩ: “Nghĩa là vua tôi, ơn là chồng vợ, đã không lấy lòng trung can gián nổi để giữ nền bình trị, lại không khéo lấy lời ngay để ngăn lòng hiếu chiến, thật là sống thừa trong cõi đất trời vậy”.
=> Nàng biết suy nghĩ những điều gốc rễ của chính sự quốc gia, lo lắng cho nền trị bình của đất nước.
+ Hành động: Trong tình thế cấp bách (Giao thần buộc nhà vua phải cống nạp phi tần, đúng vào lúc đất nước gặp nạn), mặc dù nhà vua không chấp thuận nhưng Bích Châu đã không “tham luyến phồn hoa”, chẳng “tiếc thân bồ liễu”; nàng cũng không cần so đo tính toán mà quyết gieo mình xuống biển, tự nộp thân mình cho Giao thần để giải gỡ mối nguy trước mắt của quan quân.
=> Bích Châu là con người quyết liệt, một lòng vì nghĩa vong thân, vì an nguy của đất nước mà dũng cảm hi sinh.
– Hiển linh giúp vua thắng trận và việc được lập đền thờ: Nàng Bích Châu hiển linh hai lần trong hai sự kiện “vãng – hoàn” của vua Lê Thánh Tông:
+ Lần thứ nhất, nàng giãi bày mối oan khuất với vua Lê, được nhận “ơn tái tạo” (nàng âm thầm phù trợ giúp nhà vua “đi đến đâu như gió mùa thu bẻ cành khô, núi Thái Sơn đè quả trứng, bắt sống tù trưởng, hát khúc khải hoàn”).
+ Lần thứ hai, nàng tỏ bày sự “không được yên lòng về chỗ vua tôi, chồng vợ” vì ý kết của bài thơ nhà vua ngự đề trên miếu thờ. Ý thơ ngự đề chuyển từ việc ca tụng công tích của Bích Châu sang việc ghi nhận khí tiết, phẩm giá của nàng.
– Lập đền thờ: Nhà vua “về đến kinh đô, nhà vua hạ chiếu cho lập đền thờ phu nhân,... Mãi đến đời nay khói hương vẫn còn nghi ngút, rất là linh ứng”. Nàng Bích Châu trung trinh đã hoá thân thành một biểu tượng bất tử trong lòng nhân dân.
=> Tác giả xây dựng một mẫu hình phụ nữ đặc biệt: trung trinh, kiên định; có trí tuệ sắc sảo và tinh thần trượng nghĩa; có lòng nhân từ khoan hậu và đức hi sinh;...
=> Nhân vật trong truyện truyền kì: Nhân vật có thể có năng lực siêu nhiên, xuất thân kì lạ, diện mạo khác thường, hành tung biến hoá,... nhân vật kì ảo và nhân vật phàm trần đối thoại, tương tác,... với nhau một cách tự nhiên, không có sự cách biệt. Nhân vật được chú trọng xây dựng với những góc cạnh đa dạng, thể hiện dụng ý nghệ thuật.
Vấn đề 3. Ngôn ngữ
– Lời kể: Lời kể ở ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài, có sự đan xen tản văn với biền văn và vận văn; sử dụng lối nói so sánh – ẩn dụ; ưa hình thức biểu đạt cầu kì, khoa trương, phóng đại; chuộng ngôn từ hoa mĩ; dùng nhiều điển cố, hình ảnh biểu trưng;...
– Lời đối thoại: Ngôn ngữ đối thoại trong Đền thiêng cửa bể, tác giả sử dụng tới trên 30 lời thoại; các nhân vật chính đều có lời thoại trực tiếp; có cả lời thoại trong “hiện thực lịch sử” và lời thoại của các nhân vật thuộc hai thế giới hữu hình và vô hình,... lời thoại (của các nhân vật khác nhau) đuợc tác giả sử dụng khá nhuần nhuyễn, tự nhiên, tương thích với nội dung và diễn biến câu chuyện,...
=> Tính văn chương, giá trị biểu cảm của tác phẩm được chú trọng qua ngôn ngữ. Điều này đã góp phần làm nên sự hấp dẫn của câu chuyện trong việc thể hiện chủ đề – tư tưởng của tác phẩm.
Vấn đề 4. Thủ pháp nghệ thuật
– Sự đan xen giữa yếu lịch sử và yếu tố kì ảo:
+ Yếu tố lịch sử: cốt lõi là các sự thật lịch sử (sự nghiệp mở rộng bờ cõi của các vua đời Trần và đời Lê; ngôi đền thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu ở Hà Tĩnh;...)
+ Yếu tố kì ảo: gắn liền với các nhân vật, sự kiện, chi tiết kì ảo xuất hiện từ đầu đến cuối thiên truyện (Giao thần cản trở; Bích Châu hiến mạng cứu nguy; thuỷ quốc của Quảng Lợi vương; viên ngọc minh châu; Bích Châu hiển linh;...).
=> Sự đan xen giữa yếu tố lịch sử và yếu tố kì ảo trong truyện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp việc thể hiện nội dung tư tưởng – chủ đề của tác phẩm được trọn vẹn và hấp dẫn, lôi cuốn: nền trị bình của đất nước là thiêng liêng, chính sự quốc gia là việc hệ trọng; được các thế lực siêu nhiên thần thánh phù trợ; con người, nếu giữ trọn đạo nghĩa, biết hiến dâng cho mục đích cao đẹp thì sẽ đuợc hoá thân vào lịch sử, trở nên linh thiêng bất tử;...
– Không gian: có sự hoà trộn giữa các cõi thần tiên, trần tục, cõi âm,…
– Thời gian: thống nhất về thời gian thực và mộng, biến động xoay vần và tĩnh tại bất biến,…
– Giấc mộng: sử dụng mô típ giấc mộng (vua mơ thấy nàng Bích Châu).
=> Đây là thủ pháp quan trọng của truyện truyền kì, tạo một không gian nghệ thuật có tính phức hợp.
Vấn đề 5. Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì
- Lập bảng thống kê các sự kiện, nhân vật, chi tiết,... có tính chất linh thiêng, kì ảo
|
TT |
Sự kiện, nhân vật, chi tiết kì ảo |
|
1 |
Thần miếu ở phía trước rất hiển linh, nếu đến đó lễ bái thì sẽ được thuận buồm xuôi gió. |
|
2 |
Lúc gần nửa đêm nơi bãi vắng trên đất Kỳ Hoa, “Bích Châu ngửa mặt lên xem tượng rời, thấy một đám mây đen”. Ứng nghiệm liền sau đó “Bỗng một trận gió lốc cuồn cuộn thổi vào thuyền vua, lớp lớp cờ đào bị gió cuốn sang phía tây nam”. |
|
3 |
Đô đốc vùng biển Nam nanh to râu xồm, diện mạo hung tợn, đầu đội mũ lưu tinh, mình mặc áo gấm vây, bước dài, cúi đầu, nghiêng mình, lắc lư đi thẳng đến trước mặt vua thi lễ |
|
4 |
Vua Lê Thánh Tông mộng thấy một người con gái, nhan sắc rất đẹp, từ dưới nước hiện lên, lạy khóc, kể sự tình rồi giao ngọc minh châu triệt hải. |
|
5 |
Nhà vua sai thị thần là Nguyễn Trọng Ý viết một phong thư, bắn ra ngoài biển, treo ngọc minh châu nhìn ra, quả nhiên thấy lầu son gác tía, thành đồng ao nóng, con cháu ngư long cưỡi ngựa đi kiệu, qua lại dưới thành, không lúc nào ngớt bóng. Khi ấy có Kình hiệu uý đi tuần tiễu về, nhặt được bức thư mà nhà vua đã niêm phong cẩn thận, vội vàng đem vào tâu. |
|
6 |
Quảng Lợi vương hạ lệnh cho Ngạc tổng binh, Miết tòng sự đem vài nghìn lính mặc áo giáp, đội mũ trụ đi tróc nã Giao đô đốc. Lại sai Lí hàn lâm thảo thư, Long các thần sửa lại, Quy đốc bưu sung chức giang sứ mang thư ra đầu bãi biển |
|
7 |
Khi mọi người để mắt trông ra ngoài biển đều thấy: đi trước là Ngạc tổng binh, theo sau có các loại cá lớn, các loài rùa, ba ba,... như sấm như sét tiến thẳng vào hải phận của Giao thần |
|
8 |
Nhà vua thấy một mĩ nhân vẻ mặt đoan trang, mặc áo trắng thắc mắc về câu kết bài thơ ngự đề vàng ngọc ở trên tường. |
|
9 |
Nhân vật Bích Châu, Quảng Lợi vương, bộ máy của Quảng Lợi vương,… |
2. Chi tiết kì ảo hấp dẫn hơn cả của Đền thiêng cửa bể là:
- Chi tiết nàng Bích Châu hiển linh giáng trần sau khi u hồn đã được tế độ, nàng “trò chuyện” với vua Lê Thánh Tông và “thắc mắc” về hai câu kết bài thơ nhà vua ngự đề ở ngôi miếu thờ. Chi tiết này cho thấy dù là thần tiên cũng vẫn tưởng nghĩ đến ân nghĩa vua tôi, chồng vợ; Bích Châu là bậc “anh kiệt trong đám nữ lưu”, đáng được ngợi ca, truyền tụng.
3. Vai trò của yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì, liên hệ với vai trò của yếu tố này trong truyện cổ dân gian:
– Vai trò:
+ Là yếu tố không thể thiếu của thể loại truyện truyền kì.
+ Khắc hoạ đậm nét nhân vật và sự việc, thể hiện dụng ý của nhà văn.
+ Tạo nên sự lôi cuốn, li kì, sức hấp dẫn,... cho câu chuyện.
+ “Lấy kì nói thực” là phương thức lí giải nội dung hiện thực của truyện truyền kì.
– Liên hệ với vai trò của yếu tố này trong truyện cổ dân gian:
+ Trong một số kiểu loại truyện dân gian như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, yếu tố kì ảo được nhìn nhận như biểu hiện của một thế giới riêng, trở thành đối tượng, nội dung phản ánh trực tiếp của câu chuyện. Sự xuất hiện của yếu tố kì ảo trong thần thoại và truyền thuyết thường gắn với việc nhân hoá các lực lượng tự nhiên; yếu tố kì ảo trong truyện cổ tích, đặc biệt là truyện cổ tích thần kì, thường tập trung thể hiện ở kiểu nhân vật có phép lạ, có tài biến hoá,…
+ Truyện chí quái, chí dị thiên về các đề tài, nội dung có tính chất ma quái. Tuy nhiên, câu chuyện và nhân vật trong truyện chí quái thường đơn điệu, đơn tuyến.
LUYỆN TẬP
Câu 1. Nội dung, chủ đề, tư tưởng của văn bản.
- Nội dung, chủ đề, tư tưởng của văn bản là: Thông qua câu chuyện về nàng Bích Châu, một nhân vật gắn với những truyền tụng về các sự kiện lịch sử diễn ra ở đời Trần và đời Lê; gián tiếp đề cập quá trình thống nhất giang sơn của các triều đại phong kiến; tác giả đã ca ngợi tấm gương trung trinh, tiết nghĩa của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, một lòng vì non sông đất nước.
Câu 2. Qua việc miêu tả “bộ máy nhà nước” của Quảng Lợi vương và nội dung hai bức thư trao đổi của vua Lê Thánh Tông và Quảng Lợi vương, hiểu thế nào về lối “lấy kì nói thực” của truyện truyền kì?
Quan điểm hiện thực” nói đến ở đây chính là cách nhìn nhận, xem xét, đánh giá,...của tác giả đối với các hiện tượng của đời sống (lịch sử, xã hội; hiện thực cuộc sống,...).
+ “Bộ máy nhà nước” của Quảng Lợi vương: Theo thiết chế, mô hình bộ máy cai trị của nhà nước phong kiến (đương thời, đời Lê); đứng đầu là nhà vua, bên dưới là “nội các” gồm các “ban”, “bộ”, “ngành”/ với các chức quan, phẩm hàm,... tương ứng theo một tôn ti trật tự cụ thể, tức có “hiến chương”, pháp độ rõ ràng (ví dụ: các chức quan như thừa tướng, ngự sử, tổng binh, đô đốc,...).
+ Nội dung hai bức thư trao đổi của vua Lê Thánh Tông và Quảng Lợi vương: Lời lẽ đối đãi theo phép tắc ngoại giao; chuẩn mực xã hội và kỉ cương phép nước được đề cao; chính tà phân rõ, luân thường đạo lí được coi trọng; kẻ biết trọng danh dự, giữ tiết tháo được nể vì;... (Thư phúc đáp của Quảng Lợi vương: “Dẫu là hai nơi âm dương cách biệt, nhưng ba thước gươm sáng chẳng dung gian tà.”,...).
=> Quan điểm về hiện thực lịch sử, xã hội của tác giả: Đề cao vương đạo – phép nước theo tinh thần Nho giáo; coi trọng sự ổn định xã hội và tính tôn ti trật tự của thiết chế nhà nước; đề cao phẩm cách cá nhân, đạo lí làm người;... Tác giả đã từ thực tiễn lịch sử và cảm quan giá trị thời đại để nhìn nhận, phản ánh và biểu lộ mong mỏi, khát vọng của mình.
Câu 3. Chỉ ra những dấu hiệu để xác định văn bản Đền thiêng cửa bể là truyện truyền kì.
Những dấu hiệu để xác định văn bản Đền thiêng cửa bể là truyện truyền kì là:
– Cốt truyện: tổ chức hệ thống sự việc li kì.
– Nhân vật: kì ảo, có sức mạnh siêu nhiên, ở cõi âm – cõi dương giao tiếp.
– Ngôn ngữ: đan xen tản văn với biền văn và vận văn; sử dụng lối nói so sánh – ẩn dụ; ưa hình thức biểu đạt cầu kì.
– Thủ pháp nghệ thuật: đan xen yếu tố thực và ảo.
Câu 4. Nêu cách đọc hiểu văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì.
Cách đọc hiểu văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì là:
– Đọc và xác định đề tài, cốt truyện và hệ thống sự kiện.
– Tìm hiểu thế giới nhân vật.
– Nhận xét về ngôn ngữ (lời kể và lời nhân vật).
– Hệ thống các yếu tố kì ảo.
– Quan điểm hiện thực của tác giả.
– Kết nối để xác định chủ đề, giá trị của văn bản.
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Nhiều người quan tâm
Bài viết gần đây
Danh mục
Để lại bình luận