VĂN BẢN 3: MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ - Nguyễn Đình Thi
Vấn đề 1. Cấu trúc nghị luận
1. Văn bản bàn bạc quan niệm về thơ.
2. Hệ thống luận điểm:
+ Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về thơ, nhưng định nghĩa nào cũng vẫn không đủ.
+ Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người, ngôn ngữ thơ là phương tiện biểu đạt những“rung chuyển khác thường trong tâm hồn”.
+ Thơ không biểu đạt bằng ý niệm, bằng luận lí, mà bằng hình ảnh thấm đẫm cảm xúc.
+ Chữ và tiếng trong thơ phải có nhịp điệu, nhạc điệu để không chỉ gọi tên sự vật, mà còn gợi ra những ý tứ sâu xa.
+ Những luật lệ của thơ, từ âm điệu, đến vần, đều là những võ khí rất mạnh trong tay người làm thơ.
Vấn đề 2. Nghệ thuật lập luận
Phân tích cách triển khai một luận điểm tiêu biểu
|
Thơ không biểu đạt bằng ý niệm, bằng luận lí, mà bằng hình ảnh thấm đẫm cảm xúc. Câu chủ đề: “Nên thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý”. |
||
|
Giải thích |
Bình luận |
Chứng minh |
|
Nói bằng ý niệm thuần tuý là chuyện của triết học, luận lí; thơ nói bằng cảm xúc cho nên có sức mạnh lay động chiều sâu của tâm hồn con người. |
– Cảm xúc của người làm thơ khiến cho hình ảnh trong thơ bao giờ cũng“ mới mẻ, đột ngột lạ lùng” như được “nhìn bằng con mắt của người đầu tiên”. – Những hình ảnh còn tươi nguyên, mà nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng. |
– Đưa ra một đoạn ca dao làm dẫn chứng, phân tích để thấy sự tác động vào tâm hồn con người thể hiện cụ thể như thế nào. – Mượn câu nói của một nhà văn Pháp, nhà thơ bao giờ cũng là ngôi thứ nhất. Nhưng những hình ảnh mới lạ ấy đều có trong đời thực, chúng ta đều thấy. |
Vấn đề 3. Sự kết hợp các thao tác nghị luận
– Theo tác giả, điều đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo thơ chính là: “Làm thơ, ấy là dùng những lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường. Làm thơ là đang sống, không phải chỉ nhìn lại sự sống, làm một câu thơ yêu, tâm hồn cũng rung động như khi có người yêu trước mặt”.
– Quan niệm đó đã được tác giả làm sáng tỏ bằng một số thao tác nghị luận:
|
Thao tác |
Biểu hiện |
|
Giải thích |
Giải thích về bản chất của việc làm thơ. |
|
Chứng minh |
Hình ảnh “trời xanh”, “mưa phùn” và sự tác động của chúng vào hồn người; đoạn ca dao được dẫn ra để cho thấy thơ tác động đến tâm hồn con người chứ không phải đến nhận thức lí trí. |
|
Bình luận |
Tư tưởng trong thơ không phải là tư tưởng thuần tuý, mà là “tư tưởng dính liền với cuộc sống, ở trong cuộc sống”, “nằm ngay trong cảm xúc, tình tự”. |
|
Bác bỏ |
“Thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý”, vì “nói bằng ý niệm chúng ta sẽ có triết học, luận lí […] chứ không có thơ”,… |
Vấn đề 4. Mục đích, thái độ của người viết
Trình bày suy nghĩ về quan điểm: “chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác... Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”.
– Đây là quan điểm đúng đắn.
– Bởi vì:
+ Hình thức thơ ca là phương tiện, không phải mục đích: Thơ ca trước hết là để diễn tả cảm xúc, suy tư của con người.
+ Sự đa dạng của hình thức thơ ca: Việc sử dụng đa dạng các hình thức thơ ca sẽ giúp cho thơ ca phong phú và đáp ứng được nhu cầu thể hiện nội dung phong phú của con người.
+ Sự phát triển của ngôn ngữ và xã hội: Ngôn ngữ và xã hội luôn thay đổi. Việc bó buộc thơ ca vào những hình thức cũ kĩ sẽ khiến cho thơ ca trở nên lạc hậu và không thể diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay.
+ Tuy nhiên, hình thức thơ ca cũng có vai trò quan trọng. Đó là sự sáng tạo của nhà thơ.
=> Cần có một cái nhìn khoáng đạt, chấp nhận mọi tìm tòi để cách tân thơ, làm cho thơ luôn luôn mới, phù hợp với xu thế chung của thơ thế giới.
LUYỆN TẬP
Câu 1. Nội dung nghị luận của văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tế sáng tác thơ
hiện nay nữa không? Vì sao?
- Nội dung nghị luận của văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tế sáng tác thơ hiện nay:
Những ý kiến được trình bày trong bài viết như đầu mối của thơ là ở bên trong tâm hồn con người; thơ là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt, tư tưởng của thơ phải nằm trong cảm xúc; hình ảnh có vai trò rất lớn trong việc biểu đạt nội dung cảm xúc thơ; ngôn từ trong thơ cần được lựa chọn kĩ lưỡng, phải có nhịp điệu, giai điệu; thơ có thể có vần hoặc không vần; thơ có thể tìm kiếm mọi hình thức biểu hiện khác nhau;… đều rất thoả đáng, phù hợp với thơ hiện nay.
Câu 2. Văn bản giúp gì trong việc hiểu bản chất của thơ và việc đọc thơ?
– Một số nét về bản chất của thơ:
+ Thơ là tiếng nói của tình cảm, thể hiện những rung động mãnh liệt của chủ thể trước cuộc sống.
+ Ý tứ của thơ phải biểu hiện qua những hình ảnh thấm đẫm cảm xúc của chủ thể.
+ Ngôn ngữ thơ phải có nhịp điệu, giàu nhạc tính, tác động mạnh vào tâm hồn người đọc.
+ Thơ có nhiều hình thức biểu hiện rất phong phú, thơ cách luật hoặc thơ tự do, có vần hoặc không vần,… điều quan trọng là phải diễn tả đúng tâm hồn của con người.
– Một số gợi ý cho việc đọc thơ:
+ Đọc thơ cần có những rung cảm thực sự để thâm nhập vào cảm xúc của bài thơ.
+ Đọc thơ cần có những kiến thức về đặc trưng ngôn ngữ thơ để hiểu được giá trị biểu đạt của các yếu tố hình thức trong bài thơ
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Nhiều người quan tâm
Bài viết gần đây
Danh mục
Để lại bình luận