|
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO |
KỲ THI TUYỂN SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG |
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
GỌI GIẤC MƠ VỀ
Nguyễn Bích Lan
[Tóm tắt phần đầu: Cậu bé vừa chạy theo ba trên bãi biển vừa nhắc về phần thưởng ba đã hứa từ đầu năm học nếu nó đứng nhất lớp, đạt giải nhất thi học sinh giỏi. Nghe lời ba, nó không chỉ học giỏi mà mỗi ngày còn giúp cha mẹ gỡ lưới, phơi lưới, học vá lưới. Ba nó vừa bước chân về phía trước vừa ngoái đầu lại, hai lần đáp “Nhớ!”].
Ngôi nhà nhỏ của gia đình nó hiện ra thấp thoáng sau rặng thông xanh sẫm. Ba con nó như hai con thuyền chòng chành trong bóng tối bỗng thấy ngọn hải đăng dẫn lối vào bờ. Nhưng nó chưa chịu kết thúc cuộc tra vấn dai dẳng của mình. Bây giờ nó phải tranh với cả gió lẫn rặng thông để lời nó bay được lên phía trước mươi bước, tới tận tai ba nó.
“Hôm bế giảng con mang ba tấm giấy khen về, ba hỏi con muốn thưởng gì, con nói chẳng muốn chi hết, con chỉ muốn ba thưởng con chiếc xe đạp mini. Ba nói được, con đi chơi Sài Gòn về sẽ có xe đạp! Ba nhớ không?”
“Nhớ!” - ba nó đáp, như thể chưa lặp lại từ đó tới mấy lần, rồi đưa tay đẩy cánh cổng được ghép bằng những thân tre chẻ đôi. Nó bắt đầu mếu máo: “Thế mà bây giờ ba nói không... không xe pháo... chi hết!”. Giọng nó tắc nghẹn, rồi nó oà khóc trước bậc hiên.
Mẹ nó đang quét sân, buông cái chổi đánh “cạch”, chỉ tay về phía nó, mắng một hồi một hồi: “Mi khóc chi rứa! Mi đi chơi ba tháng trời, về tới nhà là mi hành ba! Mi đòi như đòi nợ! Mi có biết vì sao ba mi thất hứa không? Mi có biết vì sao mi ở chơi nhà o Hà những ba tháng, chứ không phải một tuần như ba mi tính không?
Vì o Hà nuôi mi đỡ ba mẹ mi đó. Ba tháng hè mi đi chơi Sài Gòn, ở nhà ba mi không đi biển được, mẹ mi không bán nổi một con cá, không kiếm nổi một đồng, mi biết không? Mi vào góc buồng mà coi đám lưới khô queo từ khi mi đi chưa gỡ kìa! Gạo mi ăn bữa tối nay là gạo được phát đó! Gạo cứu đói đó, mi biết không?
Ba mi đang đau đầu lo chạy tiền cho ba đứa tụi mi đóng học năm nay, mua bút vở năm nay, mua quần áo năm nay! Xe đạp ư! Mi học đâu thói đua đòi! Mi chín tuổi rồi chứ bé bỏng gì! Khi nào mi mới biết thương cha mẹ hả! Nếu mi không để cho ba mi yên thì mi no đòn đó!”.
Nó đưa tay bưng miệng, như thể muốn bịt tiếng khóc của mình lại mà không thể. Nó khóc thút thít qua năm ngón tay, khóc trong nỗi oan uổng của mình, trong sự vỡ vạc về nỗi khổ của cha mẹ, trong sự chấp nhận cái lý do hiển nhiên không còn gì để tranh cãi.
Nó ngồi khóc cho tới khi bốn bên hàng xóm đều lên đèn. Lần đầu tiên nó nhận thấy buổi chạng vạng ở xóm nó không có mùi cá.
[Lược một đoạn: Nhìn ba ngồi im khô trong chiếc ghế gỗ kê bên cửa sổ, cậu bé nhớ lại những buổi tối ở nhà cô Hà, xem phim hoạt hình, được cô cho đi hóng gió ngoài phố, nhớ vị của que kem mát lịm, những món ăn thơm phức mà cô nấu... Rồi nó chợt hiểu, một kỳ nghỉ hè như thế đối với nó đã đủ là một phần thưởng mà hiếm có đứa trẻ con nhà dân chài nào ở làng nó dám mơ tới].
“Ăn cơm tối xong, nó hầu như không còn thấy ấm ức gì. Phụ mẹ dọn bát đĩa xong, nó chạy xuyên qua rặng thông đến nhà thằng bạn thân nhất. Nó bước vào trong nhà bạn, chưa kịp để bạn tỏ nỗi vui gặp lại sau ba tháng hè, nó mở miệng, nói lúng búng: “Tuệ, tớ đã hứa với cậu, nhưng... tớ chưa có xe đạp... Năm nay ba tớ chưa có tiền mua xe đạp”.
Mẹ của thằng Tuệ đi tới đặt tay lên vai nó bóp nhẹ: “Hai đứa đừng buồn. Bác bớt bệnh rồi. Bác lại có thể cõng thằng Tuệ đến trường, không để nó phải bỏ học đâu mà lo. Khi nào có xe đạp thì con chở thằng Tuệ đi học đỡ bác...”.
Nó nhìn xuống đôi chân bại liệt teo tóp như hai ống sậy của thằng bạn, suýt nữa lại đổ một cơn khóc oà. Nó muốn nói với bạn rằng nó chỉ tạm thả giấc mơ về chiếc xe đạp đi như thả một con diều, rằng khi nào ba nó có thể ra khơi, nó sẽ gọi giấc mơ về.”
(Tập truyện Những ngọn lửa, NXB Phụ nữ Việt Nam,
năm 2025, trang 117-122)
Thực hiện yêu cầu/trả lời câu hỏi:
Câu 1. (0,5 điểm) Phần thưởng cậu bé mong muốn được nhận từ cha là gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại hai lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích ý nghĩa chi tiết: Nó khóc thút thít qua năm ngón tay, khóc trong nỗi oan uổng của mình, trong sự vỡ vạc về nỗi khổ của cha mẹ, trong sự chấp nhận cái lý do hiển nhiên không còn gì để tranh cãi.
Câu 4. (1,0 điểm) Theo em, vì sao tác giả đặt nhan đề cho truyện là Gọi giấc mơ về?
Câu 5. (1,0 điểm) Từ ước mơ của cậu bé trong truyện, em hãy chia sẻ một ước mơ dành cho người thân yêu và lý giải vì sao em có ước mơ đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cậu bé (nó) trong phần cuối văn bản (từ Ăn cơm tối xong, nó hầu như không còn thấy ấm ức gì đến hết).
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về sự sẻ chia trong cuộc sống.
............... Hết .............
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: ........................................................... Số báo danh: ..................................
Chữ ký của Giám thị 1: .................................... Chữ ký của Giám thị 2: ................................
|
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO |
HƯỚNG DẪN CHẤM THI TUYỂN SINH THPT |
I. HƯỚNG DẪN CHUNG
1. Giám khảo chấm đúng theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo.
2. Nếu thí sinh có cách trả lời khác đáp án nhưng hợp lí, thuyết phục thì giám khảo vẫn chấm theo biểu điểm của Hướng dẫn chấm thi. Chỉ cho điểm tối đa mỗi ý khi đảm bảo kĩ năng nghị luận vững vàng, kiến thức chắc chắn, hành văn chuẩn mực.
3. Giám khảo không quy tròn điểm thành phần của từng câu, điểm của bài thi.
II. ĐÁP ÁN, BIỂU ĐIỂM
|
Câu |
Sơ lược lời giải |
Điểm |
|
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) - Giám khảo đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về đọc hiểu truyện của chương trình Ngữ văn 2018 cấp THCS, cụ thể: + Nhận biết được những yếu tố nôi dung, hình thức của văn bản; kiến thức tiếng Việt. + Biết phân tích ý nghĩa của các chi tiết tiêu biểu, nhan đề truyện. + Biết vận dụng liên hệ với bản thân. + Bài làm chỉ cần trả lười ngắn gọn, đúng yêu cầu trọng tâm của các câu hỏi đọc hiểu; chấp nhận cách trình bày gạch đầu dòng các ý cần nêu. |
|
|
1 |
Nêu được phần thưởng cậu bé mong muốn được nhận từ cha: Chiếc xe đạp mi ni. |
0,5 |
|
2 |
Ghi lại hai lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm: - Nhớ! - Thế mà bây giờ ba nói không… không xe pháo… chi hết! |
0,5 0,25 0,25 |
|
3 |
Phân tích ý nghĩa chi tiết: Nó khóc thút thít qua năm ngón tay, khóc trong nỗi oan uổng của mình, trong sự vỡ vạc về nỗi khổ của cha mẹ, trong sự chấp nhận cái lý do hiển nhiên không còn gì để tranh cãi. - Bộc lộ tâm trạng của cậu bé khi bị mẹ mắng: khóc vì thấy mình bị oan uổng, bị mẹ hiểu lầm; nhận ra và thấu hiểu nỗi khổ của cha mẹ; đành chấp nhận sự thật không thể có phần thưởng như ba đã hứa. - Cho thấy cậu bé là người giàu xúc cảm, giàu tình yêu thương, hiểu chuyện dù còn nhỏ tuổi. - Gây ấn tượng, gợi xúc động cho người đọc. |
1,0
0,5 0,25
0,25 |
|
4 |
Lý giải vì sao tác giả đặt nhan đề cho truyện là Gọi giấc mơ về: - Nhan đề là cụm từ xuất hiện trong suy nghĩ của nhân vật cậu bé (nó) ở cuối truyện. - Thể hiện mong ước tha thiết, không từ bỏ giấc mơ của nhân vật; cho thấy cậu bé già tình yêu thương, biết sẻ chia… - Góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm. - Thu hút sự chú ý/gây ấn tượng với người đọc. |
1,0 0,25
0,25
0,25 0,25 |
|
5 |
Chia sẻ một ước mơ của em dành cho người thân yêu và lý giải: - Chia sẻ một ước mơ của em dành cho người thân yêu: + Nêu rõ được ước mơ, hướng tới đối tượng cụ thể. + Ước mơ cần mang màu sắc tích cực, tốt đẹp. - Lý giải vì sao em có ước mơ đó: trình bày được lý do cụ thể, thuyết phục. |
1,0 0,5
0,5 |
|
|
II. VIẾT (6,0 điểm) - Giám khảo cần xem xét, đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về viết văn nghị luận của chương trình Ngữ văn 2018 cấp THCS, cụ thể: + Xác định, triển khai và làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận theo một cấu trúc chặt chẽ. + Trình bày rõ quan điểm, xây dựng hệ thống các luận điểm phù hợp với bố cục đoạn văn và bài văn nghị luận. + Lựa chọn được các thao tác nghị luận phù hợp; trình bày, sử dụng các lí lẽ xác đáng và bằng chứng thuyết phục. |
|
|
1 (2,0 điểm)
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cậu bé (nó) trong phần cuối văn bản (từ Ăn cơm tối xong, nó hầu như không còn thấy ấm ức gì đến hết). |
|
|
|
Lưu ý: Nếu thí sinh viết nhiều hơn một đoạn văn thì không cho điểm ý này. - Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích nhân vật cậu bé (nó)trong phần cuối văn bản. - Lập luận chặt chẽ, lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu. - Sáng tạo: có ý hiểu riêng nhưng hợp lý, thuyết phục, diễn đạt mới mẻ, giùa cảm xúc. |
1,0 0,25
0,25
0,25 0,25 |
|
|
a. Phân tích đặc điểm nhân vật cậu bé trong phần cuối văn bản Thí sinh xác định được đặc điểm, phẩm chất của nhân vật; phân tích các chi tiết hành động, suy nghĩ, lời nói… để làm sáng tỏ. Gợi ý: - Cậu bé hiểu chuyện, hiếu thảo: không còn ấm ức sau khi hiểu nỗi khổ của cha mẹ, phụ mẹ dọn bát đĩa. - Cậu bé giàu tình yêu thương, sẵn lòng sẻ chia, giúp đỡ bạn: hành động vội vã chạy đến nhà bạn thân sau ba tháng hè xa cách; lời nói ngập ngừng thể hiện sự áy náy vì thất hứa; nỗi xót xa, rưng rưng khi nhìn đôi chân bạn… - Kiên trì nuôi dưỡng ước mơ: suy nghĩ không từ bỏ giấc mơ có chiếc xe đạp để chở bạn đi học. b. Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật - Đặt nhân vật vào hoàn cảnh xúc động, bất ngờ, nhân vật được xây dựng qua hành động, lời nói, suy nghĩ… |
1,0 0,75
0,25
|
|
2 (4,0 điểm) |
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về sự sẻ chia trong cuộc sống. |
|
|
|
- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ xác đáng. - Bằng chứng đa dạng, tiêu biểu, thuyết phục. - Sáng tạo: + Có những ý kiến riêng nhưng hợp lý, lập luận thuyết phục, thể hiện trải nghiệm sâu sắc. + Có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. Lưu ý: Nếu thí sinh mắc quá 0,5 lỗi diễn đạt (chính tả, dùng từ, đặt câu) thì trừ 0,25 điểm trên tổng số điểm đạt được. |
1,5 0,25 0,25 0,5
0,25
0,25 |
|
|
|
2,5 |
|
|
a. Viết được mở bài và kết bài (0,5 điểm) - Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận. - Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận. |
0,25 0,25 |
|
|
b. Giải thích vấn đề nghị luận (0,5 điểm) - Giải thích: sẻ chia là sự thấu hiểu, san sẻ, giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần. - Nêu biểu hiện: nêu được một số biểu hiện của sự sẻ chia về vật chất, tinh thần trong cuộc sống… |
0,25
0,25
|
|
|
c. Bày tỏ ý kiến về vấn đề nghị luận (1,0 điểm) - Thí sinh bày tỏ ý kiến của bản thân về sự sẻ chia trong cuộc sống, đưa ra lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ ý kiến về vấn đề. Gợi ý: Khẳng định sự sẻ chia đe lại nhiều ý nghĩa tích cực, tốt đẹp trong cuộc sống: - Với bản thân người biết sẻ chia: bồi đắp, hình thành lòng nhân ái, lối sống vị tha; khẳng định được ý nghĩa, giá trị của bản thân; nhận được sự yêu mến, trân trọng… - Với người được sẻ chia: được giúp đỡ, chia sẻ khó khăn, vui buồn; được tiếp thê sức mạnh, động lực, niềm tin vào cuộc sống. - Với cộng đồng, xã hội: lan toả lối sống đẹp; xây dựng xã hội gắn kết, nghĩa tình, văn minh… |
0,5
0,25
0,25
|
|
|
d. Mở rộng vấn đề, rút ra bài học (0,5 điểm) - Mở rộng vấn đề: Biết xem xét vấn đề từ nhiều góc độ để có cái nhìn toàn diện, thuyết phục. Gợi ý: + Phê phán những biểu hiện thờ ơ, vô cảm… + Hiểu đúng: sẻ chia cần đúng người, đúng hoàn cảnh, đúng cách… - Rút ra bài học: Biết liên hệ với bản thân để rút ra bài học phù hợp, có ý nghĩa tích cực Gợi ý: + Nhận thức được vai trò, ý nghĩa của sự sẻ chia trong cuộc sống. + Hành động: biết sẻ chia từ những việc nhỏ hàng ngày, tích cực tham gia vào các hoạt động nhân ái… |
0,25
0,25
|
............... Hết .............
- Bảo đảm yêu cầu về hình thức đoạn văn (có thể trình bày đoạn văn theo cách diẽn dịch, quy nạp, phối hợp…) và dung lượng 200 = 100 chữ)
- Xác định đúng vấn đề ần nghị luận: suy nghĩ về sự sẻ chia trong cuộc sống.
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Nhiều người quan tâm
Bài viết gần đây
Danh mục
Để lại bình luận