Soạn văn lớp 12 Bài 1 Văn bản 1 Xuân Tóc Đỏ cứu quốc - Trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

VĂN BẢN 1: XUÂN TÓC ĐỎ CỨU QUỐC - Trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

1: Tóm tắt các sự kiện chính

- Câu chuyện: Xuân Tóc Đỏ cứu quốc.

- Các sự kiện chính

+ Hà Thành tổ chức trận chung kết quần vợt với quán quân Xiêm La. Hai nhà vô địch Hải và Thụ bất ngờ mất tích nên Xuân Tóc Đỏ được chọn thi đấu.

+ Trong trận đấu, Xuân liên tục chiếm ưu thế. Vua Xiêm tức giận, đe dọa sẽ gây chiến nếu Xuân thắng nên quan chức Đông Dương buộc Xuân phải nhường đối thủ.

+ Xuân cố ý thua. Ban đầu công chúng phản đối, nhưng sau bài diễn thuyết của Xuân về việc hi sinh danh dự cá nhân để cứu đất nước, mọi người quay sang tung hô hắn là anh hùng cứu quốc.

2:  Ngôi kể và điểm nhìn

– Ngôi kể và điểm nhìn: Đoạn trích được kể ở ngôi thứ ba với điểm nhìn bên ngoài (điểm nhìn toàn tri).

– Ý nghĩa:

+ Tạo điều kiện bao quát toàn cảnh sự việc, đẩy nhanh nhịp độ kể và làm nổi bật tính chất “hề” của toàn bộ những gì được kể.

+ Điểm nhìn được dịch chuyển, soi chiếu ở nhiều góc khác nhau (bao quát, cụ thể, xa, gần,…) để người đọc thấy được bức tranh tổng thể về những gì đang diễn ra.

=> Điểm nhìn toàn tri giúp nhà văn vạch trần những mảng tối trong hiện thực đồng thời thể hiện sự khinh bỉ đối với xã hội lúc bấy giờ. 

3: Tình huống

 Tình huống 1: Hai nhà quán quân cũ là Hải và Thụ mất tích, dẫn đến nguy cơ trận chung kết quần vợt phải hoãn, đồng thời cũng tạo cơ hội cho Xuân Tóc Đỏ được ra sân tỉ thí với quán quân Xiêm La.

– Tình huống 2: Xuân Tóc Đỏ thắng điểm quán quân Xiêm La, vô tình đẩy hai nước Việt, Xiêm vào xung đột chiến tranh.

– Tình huống 3: Đông đảo khán giả đả đảo Xuân, đòi được giải thích, buộc Xuân và ông bầu Văn Minh phải biện xảo để xoay ngược thế cờ.

=> Tình huống chính là tình huống 2. Bởi vì, tình huống này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên kịch tính và bước ngoặt của toàn bộ sự kiện được kể, nó liên quan chặt chẽ đến cao trào của sự kiện, nói lên “số đỏ” của nhân vật Xuân, phơi bày toàn bộ sự bịp bợm của màn kịch đang diễn ra.

4: Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện trước công chúng

+ Nội dung: đề cập đến những hậu quả của một xung đột Việt – Xiêm và nhấn mạnh rằng cuộc chiến sẽ kéo theo nạn đói và thảm hoạ cho nhân loại.

+ Ngôn từ: “Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những lẽ cực kì to tát nó khiến ta đành phải nhường giải cho nhà vô địch Xiêm La”; “Mi đã biết đâu cái lòng hi sinh cao thượng vô cùng”, “điểm cốt yếu của người xả thân cứu nước không phải là chỉ nghĩ đến mình…”

+ Giọng điệu: kiêu ngạo, hùng biện, bề trên,…=> bản chất khôn lỏi, cơ hội của Xuân.

+ Hành động: nó vỗ vào ngực (tự cao, tự mãn, đề cao bản thân); nó đấm tay xuống không khí (sự kiên định); nó giơ cao tay lên (sự quyết tâm);…

=> Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện có dáng dấp của một màn hài kịch, thể hiện rõ cảm quan của Vũ Trọng Phụng về hiện thực. Xã hội đảo điên đã tạo cơ hội cho Xuân – một kẻ “hạ lưu” vô học nhưng láu cá – đã chui sâu, leo cao và đạt được cơ hội “thăng tiến” khó ngờ.

 5: Ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện

– Sự tương đồng: Thể hiện rõ sắc thái mỉa mai, trào phúng, mặc dù ở lời nhân vật, sự mỉa mai không mang tính chủ động. Do được đặt trong bối cảnh “hề” nên ngay cả khi lời nhân vật thể hiện tâm trạng hoảng hốt (lời nhân vật Văn Minh) hay lâm li, phấn khích (lời nhân vật Xuân Tóc Đỏ), thì tính chất mỉa mai vẫn được bộc lộ rất rõ, hoà điệu với tính chất mỉa mai trong lời người kể chuyện.

Khác biệt:

Ngôn ngữ của người kể chuyện

Ngôn ngữ của nhân vật

 Là lời người kể chuyện.

– Là lời nhân vật.

– Thực hiện chức năng thuật kể, miêu tả, giới thiệu nhân vật, sự việc.

– Phát ra trong những hoàn cảnh, tình huống giao tiếp cụ thể.

– Thể hiện góc nhìn và quan điểm đánh giá riêng.

– Bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật.

6: Chỉ ra một số câu văn có sử dụng biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ

- Nói mỉa:

+ Người ta đồn rằng có rất nhiều người hâm mộ vì đến chậm, không mua được vé, bèn hóa ra phẫn uất và chết một cách rất thể thao, nghĩa là tự tử dần bằng thuốc phiền không có giấm thanh, hút vào phổi.

+ Công chúng luôn luôn vỗ tay hoan hô Xuân, còn trên khán đài, đức vua Xiêm đã lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị thiên tử thế thiên hành đạo ở cái nước có hàng triệu con voi.

+ Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người, nhẩy xuống đất, lên xe hơi. Rồi mấy chiếc xe của các bạn thân của nó mở máy chạy, để lại cái đám công chúng mấy nghìn người bùi ngùi và cảm động.

- Nghịch ngữ:

+ Nghĩa là bản chức yêu cầu ngài bảo tài tử của ngài phải nhuồng, phải thua nhà vô địch Xiêm ngay đi!

+ Hỡi quần chúng! Mi không hiểu gì, mi oán ta! Ta vẫn yêu quý mi mặc lòng mi chẳng rõ lòng ta!

7. Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng

– Ý thức phơi bày những mặt trái, mặt nhố nhăng, tha hóa, suy đồi của hiện thực

– Sắc sảo trong việc xây dựng những chân dung biếm hoạ, luôn tìm thấy những chi tiết độc đáo có thể lột trần chân tướng của sự vật, hiện tượng và con người thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.

– Sử dụng bối cảnh lịch sử và xã hội thực tế; ngôn từ sắc bén, mô tả tinh tế để thể hiện sự nhạy bén trong việc quan sát và phê phán xã hội thông qua các biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ, ẩn dụ,…; giọng văn đanh thép, mỉa mai để tố cáo sự thối nát của xã hội đương thời; sử dụng kiểu liên hệ so sánh đầy tính bất ngờ nhắm tới nhiều đối tượng cùng một lúc.

CÂU HỎI LUYỆN TẬP:

Câu 1

– Chủ đề: Đoạn trích thể hiện sự tha hoá về nhân cách của những kẻ đại diện cho xã hội “chó đểu”; sự xuống cấp của cả hệ thống, một chế độ xã hội đang trên đường băng hoại đầu thế kỉ XX trước cơn xoáy Âu hoá ở Việt Nam.

– Giá trị hiện thực:

+ Vũ Trọng Phụng dựng lên bức tranh về xã hội thượng lưu thông qua cuộc tỉ thí quần vợt.

+ Bức tranh hiện thực về một cộng đồng xã hội thượng lưu lố lăng, kệch cỡm,…

Câu 2: Những dấu hiệu của tiểu thuyết hoạt kê được thể hiện qua đoạn trích là:

– Phản ánh được bức tranh đời sống rộng lớn với đủ thành phần xã hội và các sự kiện chằng chéo, phức tạp.

– Từ một vài sự việc, nhân vật cụ thể, nhà văn giúp độc giả hình dung được bức tranh rộng lớn về các quan hệ và tính cách phức tạp trong xã hội.

– Làm chuyển biến nhận thức của độc giả về các vấn đề bức thiết của cuộc sống.

– Xây dựng các tình huống và chân dung trào phúng.

– Ngôn ngữ trào phúng.

– Bối cảnh trào phúng.

Câu 3

Cách đọc hiểu một văn bản thuộc thể loại tiểu thuyết : Đọc và xác định đề tài; câu chuyện và hệ thống sự kiện; tình huống và thế giới nhân vật; ngôi kể và điểm nhìn; ngôn ngữ; kết nối để xác định chủ đề, giá trị của văn bản; nhận xét về phong cách của nhà văn.

Nhận xét từ người dùng

Chatbot Icon
Trợ Lý Văn Học ×
×
Giảm -50% Shopee