Soạn văn lớp 12 Bài 1 Văn bản 2 Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

 

VĂN BẢN 2: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH - BẢO NINH

 1. Đề tài và câu chuyện được kể

– Đề tài: Đời sống của con người thời hậu chiến.

– Câu chuyện được kể:

+ Phần 1: Người kể chuyện ngôi thứ ba kể về trạng thái luôn sống với kí ức chiến tranh của nhân vật Kiên – dòng kí ức đã thôi thúc anh cầm bút để ghi chép lại tất cả trải nghiệm của một đoạn đời đặc biệt.

+ Phần 2: Người kể chuyện ngôi thứ nhất (xưng “tôi”) kể về những ấn tượng, cảm xúc và suy tư của mình khi đối diện với “núi bản thảo” bộn bề mà Kiên bỏ lại.

2. Sự khác biệt với các tiểu thuyết khác:(Câu 1 sgk)

+ “Câu chuyện” trong đoạn trích được kể từ hai ngôi: ngôi thứ ba (phần một) và ngôi thứ nhất (phần hai).

+ Nhân vật trong đoạn trích gần như không có “hành động bên ngoài” mà chỉ có “hành động bên trong”, tức là chỉ hiện lên trước người đọc với dòng tâm tư bất tận của mình.

+ Đoạn trích mờ nhạt (hay thiếu) yếu tố sự kiện: Trong đoạn trích, nổi bật là dòng tâm tư bất định của nhân vật Kiên cùng những suy tưởng miên man của người kể chuyện xưng “tôi”.

 

Vấn đề 2. Thế giới nội tâm nhân vật Kiên

Câu 3 (sgk). Trạng thái tâm lí thường trực của Kiên:

Kiên là người lính trở về sau chiến tranh nhưng không thể thoát khỏi những chấn thương tâm lí. Anh luôn sống trong nỗi buồn, cô đơn và bị quá khứ kéo trở lại.

Những biểu hiện tâm trạng của Kiên:

+ luôn nhớ về chiến tranh;

+ tâm hồn cô quạnh, bế tắc;

+ đau đớn trước sự hi sinh của đồng đội;

+ nhiều lúc mê mẩn, mất phương hướng;

+ chỉ tìm được sự giải thoát bằng cách viết.

Câu 4 (sgk). “Khuôn mặt” chiến tranh trong hồi ức của Kiên:

- Trong kí ức Kiên, chiến tranh hiện lên với gương mặt:

+ tàn khốc; đầy chết chóc; phi nhân tính;

+ để lại những mất mát không thể hàn gắn, ám ảnh nhất là trận tử chiến ở truông Gọi Hồn, nơi nhiều đồng đội của anh hi sinh.

– Đây không phải là “khuôn mặt” duy nhất của chiến tranh. Từ góc nhìn khác, người ta có thể thấy vẻ hào hùng, lãng mạn của nó, bất chấp những thực tế khốc liệt như sự phản ánh của các tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Bài ca xuân 71 (Tố Hữu), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê), Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu), Lá đỏ (Nguyễn Đình Thi),…

=> Bảo Ninh chỉ lựa chọn một góc nhìn khác: nhìn chiến tranh từ nỗi đau của những người sống sót.

3. Kiên được “phục sinh trong chuỗi dài tái hiện”:

– Chi tiết: “Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục sinh lùi về sâu xa.”, “Có vẻ như anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình: đấy chính là cuộc đời đã qua, là tuổi trẻ đã mất đi trong nỗi đau buồn chiến tranh.”, “Nhưng mặc dù thế, tôi tin rằng anh vô cùng hạnh phúc trên con đường hướng mãi về quá khứ.”, “Tôi cảm thấy ghen tị với niềm cảm hứng, niềm lạc quan quay ngược về quá khứ của anh.”,…

– Ý nghĩa: Trở về quá khứ, Kiên thấy được là chính mình khi sống với toàn bộ kí ức. Kiên tìm được hạnh phúc trong sự nhớ lại. Nhờ “tắm gội” trong kí ức, tâm hồn anh được phục sinh.

Vấn đề 3. Người kể chuyện và và sự luân chuyển điểm nhìn

1. Sự chuyển dịch ngôi kể và điểm nhìn:

- Ở phần một, tác giả kể ở ngôi thứ ba theo điểm nhìn của nhân vật Kiên và ở phần hai là kể ở ngôi thứ nhất theo điểm nhìn của người kể chuyện xưng “tôi”.

- Trong phần một, kể ở ngôi thứ ba với điểm nhìn bên trong, điểm nhìn từ nhân vật Kiên, nhà văn có thể kể những gì xảy ra trong cuộc sống của Kiên, đồng thời cũng diễn tả một cách tự nhiên diễn biến tinh tế nhất trong nội tâm của nhân vật như sự đấu tranh, giằng xé, những ám ảnh, những trạng thái đau đớn của tâm hồn,…

- Sự dịch chuyển ngôi kể và điểm nhìn tạo một cuộc đối thoại giữa hai người viết về tác phẩm của Kiên: “Tôi” và Bảo Ninh. “Tôi” nói về ấn tượng và suy nghĩ của mình trước “núi giấy” do nhân vật Kiên bỏ lại, qua đó, gián tiếp “tiết lộ bí mật” về kết cấu của chính cuốn tiểu thuyết đang trình hiện trước người đọc – Nỗi buồn chiến tranh.

  1. Người kể chuyện nhận xét về cuốn tiểu thuyết đang viết dở của Kiên (câu 6 sgk): 

-“bản thảo tiểu thuyết của Kiên dầy dần lên và dần đến đoạn kết, song đồng thời cũng như thể mỗi ngày một thêm dang dở. Những chương sau như là điệp khúc của các chương phía trước.”, “Có vẻ như chẳng một trình tự nào hết. Trang nào cũng hầu như là trang đầu, trang nào cũng có vẻ như trang cuối.”, “đây vẫn là một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời”, “mạch chuyện không ngừng đứt gãy. Tác phẩm từ đầu đến cuối không hề có nổi một tuyến chung, một bề mặt đại khái nào mà hoàn toàn là những khối thù hình”, “sự mất bố cục, sự thiếu mạch lạc, thiếu bao quát nhiều khi chứng tỏ sự hụt hẫng của tư duy người viết, chứng tỏ cái vẻ “lực bất tòng tâm” của y”, “tác phẩm bị dẹp bỏ của “nhà văn phường chúng tôi” hiện lên trong một cấu trúc khác, trong sự hoà đồng với cuộc đời thực không hề hư cấu của anh”, “Dường như do sự tình cờ của câu chữ và của bố cục, tôi và tác giả đã ngẫu nhiên trở nên hoà đồng tư tưởng, trở nên rất gần nhau.”…

– Liên hệ tới đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại:

+ Tiểu thuyết hiện đại thường có kết cấu đa tầng, đa tuyến; nhân vật có khi vắng bóng hoặc không có diện mạo, tính cách hoàn chỉnh; điểm nhìn và ngôi kể có thể thay đổi rất bất ngờ, linh hoạt; ngôn ngữ thường đa thanh;…

+ Buộc người đọc phải thay đổi nhiều thói quen tiếp nhận, ngoài việc chú ý câu chuyện được kể còn phải quan tâm tìm hiểu cách kể, cách viết đầy tính “khiêu khích” của tác giả, phải chủ động tạo sự kết nối giữa văn bản đang đọc với các văn bản khác.

+ Đòi hỏi người đọc phải liên tục thích ứng, khám phá, đồng sáng tạo với tác giả, khắc phục cách nhìn đông cứng về những cái thường được xem là hình mẫu.

3. Suy ngẫm của nhân vật “tôi” khi đọc lại bản thảo của Kiên (câu 7 sgk)

– Nỗi buồn của nhân vật chính:

+ Nỗi đau buồn mà Kiên lâm vào hay tự dìm mình vào có cội nguồn từ sự chiêm nghiệm sâu sắc bộ mặt phi nhân tính của chiến tranh: chiến tranh gây ra những chết chóc, gây nhiều tổn thương tinh thần không thể chữa lành.

+ Nỗi đau buồn của Kiên kéo anh mãi về quá khứ nhưng cũng làm cho anh được phục sinh về mặt tinh thần, giúp anh soi tỏ toàn bộ tháng ngày qua bằng một cái nhìn mới, đầy ý thức.

– Công việc viết tiểu thuyết:

+ Đối với Kiên, viết tiểu thuyết chính là một hành động cụ thể để tái hiện trọn vẹn quãng đời đã qua vốn bị cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh và để thực hiện sự phục sinh tinh thần.

 Đối với các nhà văn, viết tiểu thuyết là việc đi tìm một hình thức biểu đạt phù hợp có thể soi tỏ được bản chất của đời sống, cuốn người đọc vào những câu chuyện ngỡ xa lạ nhưng thực ra là của chính họ .

Vấn đề 4. Thủ pháp đồng hiện và bút pháp dòng ý thức

* Thủ pháp đồng hiện:

– Cơ sở: hồi ức của Kiên.

– Biểu hiện: Tác giả cho xuất hiện cùng lúc các hình ảnh, sự việc vốn xảy ra ở những thời điểm và không gian khác nhau: “Kiên cũng không thể cắt nghĩa được vì sao mà vào cái đêm lạnh giá ấy, đứng trước cửa sổ nhìn màn mưa mỏng đang chầm chậm tràn ngang qua bầu không khí xanh xám run rẩy, uốn ngả theo chiều gió đông bắc, lòng đăm đắm nhớ tới Phương, anh lại chợt nhìn thấy mùa mưa Cánh Bắc, nhìn thấy Ngọc Bơ Rây, truông Gọi Hồn”,... Từ đó, soi tỏ nội tâm của nhân vật Kiên.

+ “Con người nội tâm trong anh cô quạnh, âu sầu không hề cảm thấy gió lạnh chiều tà” => Sự cô đơn trong con người Kiên, một sự cô đơn đến âu sầu khiến anh không cảm nhận được những gì diễn ra xung quanh, kể cả những cơn gió lạnh.

+ “Lặng lẽ đưa mắt nhìn vượt khỏi tầm mắt, vươn tới cõi xa xăm bên ngoài biên giới của tư duy, đạt đến cõi hoà đồng người sống và người chết” => Sự mong mỏi đến cùng cực, sự khát khao muốn gặp gỡ những người đồng đội đã mất của mình.

+ “Và, trên vùng không gian tinh thần ấy Kiên thấy hiện lên rõ rệt một cách bí ẩn…một gương mặt mà đã từ lâu rồi anh quên lãng” => Từ sự khát khao mong mỏi, trong kí ức anh lúc này hiện ra một gương mặt mà từ lâu anh đã quên, có thể là một người bạn cũ, một người đồng đội cũ tại chiến trường và đó chính là hình ảnh đầu tiên xuất hiện.

+ Nối tiếp sau gương mặt ấy là một loạt các kí ức trong đoạn đời, kỉ niệm khác lần lượt kế tiếp nhau như: “Kí ức về một trưa mùa khô rực rỡ nắng, hoa nở đầy trong những khoảnh khắc rừng thưa…”; “Kí ức một ngày mưa lũ gian truân bên bờ Sa Thầy vào rừng hái măng đào củ”; “những bờ suối, bãi lau, buôn nhỏ hoang tàn”; “những gương mặt đàn bà mến thương xa lạ gợi niềm nhớ nhung âu yếm… niềm đau của mối tình…”.

=> Miêu tả kí ức nhân vật, nhà văn sử dụng những từ ngữ giàu sức gợi như “kí ức xa vời, trập trùng và lạnh lẽo”, “khắc nghiệt và thẳm sâu”; biện pháp so sánh kí ức ấy như “rừng như núi trong lòng anh chiều ấy” làm cho tâm hồn không còn có thể dừng mắt ở điểm nào nữa trên cõi không cùng của quá khứ.

+ Để miêu tả quá trình phục hiện kí ức của Kiên, trước hết nhà văn đã tập trung miêu tả sự cô đơn trong lòng nhân vật. Từ tâm trạng cô đơn dẫn tới khát khao muốn gặp gỡ đồng đội. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến một loạt các kí ức đồng hiện trong tâm tư nhân vật.

* Bút pháp dòng ý thức: Trạng thái chuyển động không ngừng và biến hoá phức tạp của toàn bộ ý thức nhân vật. Kiên chìm đắm trong dòng hồi ức và nhân vật “tôi” triền miên trong những băn khoăn trước đống bản thảo dang dở mà Kiên bỏ lại. Cứ như vậy, mọi trạng thái tinh thần của nhân vật được bộc lộ. Qua đó, người đọc cảm nhận được hiện thực của chiến tranh, triết lí quan niệm của nhà văn về đời sống và cùng tham gia đối thoại, tranh biện, đồng sáng tạo với nhân vật và nhà văn.

Câu 8 Sgk

Sự ý thức của tác giả Bảo Ninh đối với việc lựa chọn hình thức viết:

Bảo Ninh chủ ý xây dựng kết cấu "tiểu thuyết trong tiểu thuyết", để việc Kiên viết bản thảo trở thành một phần của tác phẩm. Hình thức này phù hợp với chủ đề về nỗi buồn và những ám ảnh hậu chiến.

Tác giả lựa chọn lối viết phi tuyến tính, đan xen quá khứ – hiện tại, thời gian – không gian theo dòng ý thức của Kiên. Cách viết này phản ánh chân thực tâm trạng rối bời, bất ổn và những kí ức luôn ám ảnh nhân vật, đồng thời buộc người đọc phải suy ngẫm sâu hơn.

Việc để nhân vật "tôi" đọc và nhận xét bản thảo của Kiên tạo thêm một điểm nhìn khách quan. Nhờ đó, cái nhìn về chiến tranh không mang tính áp đặt mà trở nên đa chiều, giúp người đọc tự đánh giá nhân vật và ý nghĩa của chiến tranh.

=> Qua hình thức nghệ thuật độc đáo, Bảo Ninh thể hiện quan niệm sâu sắc về chiến tranh, đồng thời cho thấy trách nhiệm của nhà văn đối với lịch sử và người đọc.

LUYỆN TẬP

Câu 1: Dấu hiệu của tiểu thuyết hiện đại thể hiện qua đoạn trích là:

– Nhân vật gần như không có “hành động bên ngoài” mà chỉ có “hành động bên trong”, tức là chỉ hiện lên trước người đọc với dòng tâm tư bất tận, không có diện mạo, tính cách hoàn chỉnh.

– Sử dụng thủ pháp đồng hiện và bút pháp dòng ý thức.

– Đoạn trích mờ nhạt (hay thiếu) yếu tố sự kiện.

– Tiểu thuyết hiện đại thường có kết cấu đa tầng, đa tuyến.

– Điểm nhìn và ngôi kể có thể thay đổi bất ngờ, linh hoạt.

– Ngôn ngữ thường đa thanh và giọng giễu nhại được sử dụng thường xuyên.

Câu 2: Cách đọc hiểu một văn bản thuộc thể loại tiểu thuyết hiện đại là:

– Đọc và xác định đề tài.

– Câu chuyện và hệ thống sự việc chính.

– Nhân vật.

– Ngôi kể và điểm nhìn; ngôn ngữ.

– Kết nối để xác định chủ đề, giá trị của văn bản.

– Nhận xét về phong cách của nhà văn.

Nhận xét từ người dùng

Chatbot Icon
Trợ Lý Văn Học ×
×
Giảm -50% Shopee