Đề tuyển sinh Ngữ văn 10 môn Ngữ Văn - Đọc hiểu Viết tiếp câu chuyện hòa bình của Nguyễn Văn Chung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ

KỲ THI TUYỂN SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2026 - 2027

ĐỀ CHÍNH THỨC

Khóa ngày: 25/5/2026

Môn: NGỮ VĂN (CHUNG)

Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)

(Đề thi có 02 trang)

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

Năm lớp 9, lớp Hòa Bình đón thầy giáo chủ nhiệm mới, thầy mới chuyển công tác từ nơi khác về. Buổi học đầu tiên, cả lớp hồi hộp chờ đón thầy. Thầy bước vào lớp, ánh mắt nghiêm nghị (...). Thầy mặc áo dài tay cùng chiếc quần màu xám cũ và sơ vin rất gọn gàng. Mái tóc thầy đã điểm những sợi bạc. Khi thầy bước vào lớp, Hòa Bình nhớ mãi dáng đi hơi tập tễnh của thầy. Cả lớp đều nghĩ chân trái của thầy bị đau nhưng không ai dám hỏi. (...) Sau giờ học, cả lớp bắt đầu bàn tán xôn xao về thầy. Đứa khen thầy giảng bài dễ hiểu, đứa thì lắc đầu lo lắng bảo chắc thầy nghiêm lắm đây, ... Riêng Hòa Bình thì cứ băn khoăn mãi về bước chân tập tễnh của thầy.

Giờ sinh hoạt lớp tuần này khác với tuần trước. Thầy kể cho cả lớp nghe câu chuyện về cái chân tập tễnh của thầy. Quê thầy ở đây nhưng từ khi ra trường cho đến năm ngoái, thầy công tác ở một trường thuộc vùng khó khăn của tỉnh. Thầy kể các bạn học sinh ở đó khó khăn lắm, ngoài giờ học, các bạn còn phải làm rất nhiều việc để giúp đỡ ba mẹ. Có bạn còn phải mang cả em đến lớp. Có bạn đi học được vài buổi lại ở nhà làm việc, thầy phải đến từng nhà động viên các bạn đi học. Dù vậy, nhiều bạn vẫn học rất chăm và giỏi. Thầy thương các bạn lắm nên mỗi dịp hè, thầy thường gom sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,... mang lên cho các bạn. Hè năm ngoái, trên đường lên trường, đi qua những khúc cua quanh co, dù đã quen đường nhưng do chở đồ nặng, xe bị trượt bánh, thầy bị ngã văng ra xa khỏi xe, rồi bất tỉnh. Mãi sau có người dân phát hiện, đưa thầy đi bệnh viện. Sau tai nạn đó, giờ chân thầy thành ra tập tễnh như vậy. Thầy bảo vì thế nên mùa hè năm ngoái, thầy không mang được sách vở, quần áo, đồ chơi lên cho các bạn. Kể đến đây, giọng thầy trầm xuống. Rồi thầy chuyển công tác về trường này dù thầy rất muốn tiếp tục gắn bó với các bạn nhỏ ở đó.

- Mỗi khi trái gió trở trời, chân thầy nhức lắm. Thầy nhớ mấy đứa nhỏ trên đó, thỉnh thoảng gom được ít đồ lại nhờ người gửi lên.

Cả lớp nghẹn ngào. Mắt Hòa Bình rưng rưng.

Năm đó chuẩn bị thi chuyển cấp, nhờ những lời động viên, ân cần chỉ bảo của thầy, cả lớp Hòa Bình đều nỗ lực học tập. (...) Ngày chia tay, từng đứa học trò vụng về viết lưu bút và hứa với nhau sau này sẽ thành công để không phụ lòng thầy. Thầy chỉ cười: “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”. Cuối năm học, lớp Hòa Bình đã cùng nhau góp sách vở, quần áo, truyện,... nhờ thầy gửi đến các bạn nhỏ vùng khó khăn.

Cuộc sống cuốn mỗi người đi theo một ngả. Nhưng có những buổi chiều chậm lại, khi vô tình ngang qua ngôi trường xưa, trái tim lại gợi lên những hồi ức dịu dàng, hồi ức đẹp về một người đã từng kiên nhẫn gieo vào lòng những đứa trẻ hạt giống lòng tin và sự tử tế.

Thầy bây giờ không còn đứng lớp nữa. Mái tóc thầy bạc dần theo thời gian, sân trường giờ đã có những thế hệ học trò mới. Nhưng với Hòa Bình, người thầy năm xưa vẫn là một điều thiêng liêng trong hành trình trưởng thành, là người đã lặng lẽ thắp sáng những năm tháng đầu đời bằng trái tim hiền hậu và ánh mắt đầy yêu thương.

(Trích Viết tiếp câu chuyện hòa bình, Nguyễn Văn Chung, Nxb Đại học Sư phạm, 2025, tr.76-80)

1 Nguyễn Văn Chung sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của nhiều bài hát nổi tiếng như “Nhật ký của mẹ”, “Vầng trăng khóc”, “Chiếc khăn gió ấm”,...

"Viết tiếp câu chuyện hòa bình" là cuốn sách kết hợp những câu chuyện cuộc đời giản dị, chân thành và những ca khúc âm nhạc được gợi cảm hứng từ chính những câu chuyện ấy, đồng thời còn là giai điệu cuộc đời, là hành trình đầy cảm xúc, nơi âm nhạc và văn học đưa bạn đọc trở về với những điều bình dị nhất nhưng cũng thiêng liêng nhất trong cuộc sống.

 

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của đoạn trích trên.

Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra 01 lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu: Thầy thương các bạn lắm nên mỗi dịp hè, thầy thường gom sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,... mang lên cho các bạn.

Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về câu nói của người thầy dành cho các bạn học sinh lớp chủ nhiệm trong ngày chia tay: “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”

Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung câu văn: “Nhưng với Hoà Bình, người thầy năm xưa vẫn là một điều thiêng liêng trong hành trình trưởng thành, là người đã lặng lẽ thắp sáng những năm tháng đầu đời bằng trái tim hiền hậu và ánh mắt đầy yêu thương.”, hãy rút ra bài học có ý nghĩa đối với bản thân. (Trình bày khoảng 5 - 7 dòng)

 

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật người thầy trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Câu 2. (4,0 điểm)

Thế kỉ XXI, xã hội có nhiều biến động, nhiều người chủ động để thích ứng nhưng cũng còn một số người e ngại sự thay đổi, không sẵn sàng dấn thân để trải nghiệm.

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) để đề xuất giải pháp khắc phục lối sống thụ động của giới trẻ hiện nay.

---------- HẾT ----------

(Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)

HƯỚNG DẪN CHẤM

I. ĐỌC - HIỂU

Câu 1: 

Ngôi kể thứ ba.

Hướng dẫn chấm: HS trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm

Câu 2:

Học sinh chỉ ra 01 trong 02 lời dẫn trực tiếp sau:

+ Mỗi khi trái gió trở trời, chân thầy nhức lắm. Thầy nhớ mấy đứa nhỏ trên đó, thỉnh thoảng gom được ít đồ lại nhờ người gửi lên.

+ “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”

Hướng dẫn chấm: HS trả lời đúng 01 trong 02 ý: 0,5 điểm

Câu 3: 

- Biện pháp tu từ: Liệt kê sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi

- Tác dụng:

+ Tăng tính cụ thể, chân thực, tạo nhịp điệu, giúp câu văn sinh động.

+ Làm nổi bật sự thiếu thốn của học sinh vùng khó khăn và tấm lòng yêu thương, quan tâm chu đáo của thầy giáo dành cho các em nhỏ.

+ Thể hiện sự trân trọng, cảm phục trước tấm lòng nhân hậu, đức hi sinh của người thầy.

Hướng dẫn chấm:

+ HS trả lời được mỗi ý cho 0,25 điểm

+ HS trả lời được ý 3 hoặc ý 4 cho 0,5 điểm

Câu 4:

Câu nói của người thầy dành cho các bạn học sinh lớp chủ nhiệm trong ngày chia tay có ý nghĩa:

+ Là lời dặn dò ân cần, mong muốn giản dị của thầy về cách làm người của mỗi học sinh: biết yêu thương, quan tâm, chia sẻ,...

+ Giúp học sinh nhận thức về lẽ sống: không cần phải làm những điều quá lớn lao, đừng sống vì sự kỳ vọng của người khác, biết sống tử tế.

Hướng dẫn chấm:

- HS trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm

- HS trả lời 1 ý cho 0,5 điểm

Câu 5: 

- HS rút ra bài học có ý nghĩa đối với bản thân, trình bày chặt chẽ, thuyết phục.

Gợi ý:

+ Phải biết trân trọng những hồi ức đẹp về thầy cô, mái trường.

+ Biết ơn công lao thầm lặng nhưng lớn lao của người thầy.

+ Sống yêu thương, quan tâm, chia sẻ với những người xung quanh.

+ ...

(HS có thể diễn đạt khác, miễn hợp lí).

II. VIẾT

Câu 1: 

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật người thầy trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

a. Xác định đúng yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Đảm bảo yêu cầu hình thức của đoạn văn, dung lượng khoảng 150 chữ. (0,25 điểm)

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích nhân vật người thầy. (0,25 điểm)

c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu: Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng, có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau. Gợi ý:

- Nhân vật người thầy:

+ Là người giản dị, mộc mạc (mặc áo dài tay, chiếc quần xám cũ,...).

+ Là người nhân hậu, bao dung, tận tụy, yêu thương học trò (thầy thường xuyên gom sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,... giúp đỡ học sinh vùng khó khăn).

+ Truyền cảm hứng, gieo vào lòng học trò niềm tin, sự tử tế và những bài học làm người sâu sắc (Cuối năm học, lớp Hòa Bình đã cùng nhau góp sách vở, quần áo, truyện,... gửi đến các bạn nhỏ vùng khó khăn; câu nói của thầy “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”,...).

- Nhân vật người thầy được khắc họa bằng những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc (miêu tả ngoại hình, lời nói, hành động; ngôi kể thứ ba, ngôn ngữ kể chuyện giản dị, đời thường; dẫn dắt các tình tiết tự nhiên,...).

- Đánh giá ý nghĩa nhân vật: Qua nhân vật người thầy, tác giả gửi đến thông điệp: Sự kính trọng, biết ơn sâu sắc đối với người thầy; khơi gợi trong lòng người đọc sự trân quý dành cho nghề giáo. (1,0 điểm)

d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. (0,25 điểm)

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. (0,25 điểm)

Câu 2: 

Thế kỉ XXI, xã hội có nhiều biến động, nhiều người chủ động để thích ứng nhưng cũng còn một số người e ngại sự thay đổi, không sẵn sàng dấn thân để trải nghiệm.

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) để đề xuất giải pháp khắc phục lối sống thụ động của giới trẻ hiện nay.

a. Xác định đúng yêu cầu về kiểu bài và dung lượng: Đảm bảo yêu cầu hình thức của bài văn nghị luận xã hội, dung lượng khoảng 600 chữ. (0,25 điểm)

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Giải pháp khắc phục lối sống thụ động của giới trẻ hiện nay. (0,25 điểm)

c. Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. HS có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau, nhưng về cơ bản phải đáp ứng các nội dung sau:

- Giải thích: Lối sống thụ động là cách sống thiếu tích cực, không tự mình suy nghĩ, hành động hay đưa ra quyết định, dễ dàng bị phụ thuộc và chi phối bởi hoàn cảnh, người khác. (0,25 điểm)

- Thực trạng: Lối sống thụ động đang trở nên khá phổ biến trong giới trẻ; họ thiếu chủ động trong cuộc sống, ngại giao tiếp, dễ bị áp lực khi đối mặt với các tình huống mới; thiếu mục tiêu, thiếu kế hoạch, ... (0,25 điểm)

- Nguyên nhân:

+ Chưa nhận thức đúng về vai trò của sự chủ động, có tâm lý an phận, ngại thay đổi, không có chính kiến riêng. (0,5 điểm)

+ Gia đình bao bọc, chiều chuộng quá mức khiến con cái không có cơ hội tự lập, không biết cách đối mặt với khó khăn, ...

+ Ảnh hưởng từ môi trường mạng và các phương tiện truyền thông hiện đại, khiến người trẻ phụ thuộc, mất khả năng tư duy sáng tạo.

- Hậu quả: (0,25 điểm)

+ Khiến con người mất đi ý chí vươn lên, không đủ kĩ năng và bản lĩnh để thích ứng với cuộc sống đầy biến động.

+ Bỏ qua cơ hội phát triển bản thân, khó hòa nhập vào xã hội, dễ thất bại trong học tập, công việc và cuộc sống.

- Mở rộng và trao đổi ý kiến trái chiều: (0,25 điểm)

+ Phê phán những người trẻ sống thụ động, không dám bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân vì vậy dễ đánh mất những giá trị đích thực của cuộc sống.

+ Một số bạn trẻ sống chủ động nhưng dễ bị chi phối bởi hoàn cảnh, thiếu định hướng, thiếu cơ hội, mất phương hướng, ...

- Giải pháp:

+ Nhận thức được vai trò và ý nghĩa của việc sống chủ động; không ngừng học hỏi, khám phá và rèn luyện các kĩ năng; dám thử thách bản thân trong những hoàn cảnh mới.

+ Gia đình và nhà trường cần phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục kĩ năng sống, tư duy phản biện và ý thức tự chủ, tạo điều kiện cho các bạn trẻ được trải nghiệm.

+ Xã hội cần tăng cường truyền thông về những tấm gương người trẻ có tinh thần chủ động, sáng tạo.

d. Diễn đạt: Trình bày bài viết rõ ràng; ít lỗi sai chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. (0,25 điểm)

e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề cần nghị luận. (0,25 điểm)

 

Nhận xét từ người dùng

Chatbot Icon
Trợ Lý Văn Học ×
×
Giảm -50% Shopee