SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2026 - 2027
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Hòn ngọc Minh Châu
Trung Sỹ1
Biển xanh ngoài đảo xa, cơn bão năm ấy dữ dội lạ thường. Gió xé rách tả tơi những lá cờ trên bến cảng chưa kịp hạ. Sóng vật vã quật mình vỡ tan trên những bờ đá trầm tích ngàn năm tuổi.
Trong khe sâu, một con trai Mã Thị2 non bị sóng dữ đập vùi quặng quại. Hắp! Một luồng nước ngầm cuốn tung nó lên cao, ném nó vào vách núi. Vỏ trai bị đập vào đá nứt sứt, lớp thịt mềm bên trong lộ ra. Nó thoi thóp gắng bám vào bãi cát ngầm. Những hạt cát thô, những mảnh vụn vỏ hà3 sắc lẹm lọt vào trong lớp vỏ, cứa trên thân nó vô số vết thương đau đớn.
Bão tan. Biển trở lại hiền hoà cùng lớp vỏ trai đã dần kịp đắp lành. Nhưng không ai thấy nỗi đau bên trong của con trai Mã Thị. Đàn cá ngân bên ngoài rủ rít khoẻ vây, nhìn nó thờ ơ. Con sứa lửa che chiếc dù hồng có những tua dài yếu điệu trôi qua thấy nó, phì vội một bãi bọt khinh bỉ. Trông bề ngoài có vẻ quý phái thế nhưng ả sứa kênh kiệu này có nhiều tua, mỗi chiếc tua là một chiếc roi độc, quất vào ai thì kẻ đó bỏng rát. Ngay cả những con ốc hương chậm hoa cũng lánh xa Mã Thị, đám hoả vương đẳng cấp trên đều dù cũng sống trong từng đáy. Chỉ còn thảm rong nho xanh dập dềnh nương theo nhịp triều trôi nổi trên bãi biển xoa dịu lòng con trai cô độc.
Với đại dương bao la, một con cá voi xanh khổng lồ và một con trai bị thương bé bỏng đều có giá trị như nhau về mặt kích thước. Nhưng với con trai non, sự kì thị cùng những hạt cát đang cứa vào lòng nó một nỗi đau khôn tả. Mã Thị rùng mình co lại, run rẩy trong nỗi cô đơn. Nó đôi khi muốn bỏ cuộc, buông mình tách vỏ cho bạch tuộc nuốt, cho sóng cuốn tan xác. Nhưng rồi bản năng sinh tồn buộc nó phải tìm một cách khác, là phải học cách sống cùng nỗi đau.
Biển cả cũng như cuộc đời, khắc nghiệt ngã đủ chiều. Có sóng giông bão mịt mù, nhưng cũng có những dòng hải lưu ấm đưa các phù du sinh vật về âm thầm nuôi con trai dần lớn. Sự vô tình của biển lại chính là chiếc nôi nuôi dưỡng đức tính kiên cường. Ngày qua ngày, trai Mã Thị tiết ra từng lớp xà cừ mỏng bọc lấy dị vật, bồi đắp dần biến nó thành những tinh cầu long lanh. Mỗi nỗi đau chắt chứa trong lòng đã thành một viên ngọc. Trong bóng nước biếc xanh, chúng lấp lánh như những giọt sao rơi xuống lòng đại dương.
Bây giờ Mã Thị đã cường tráng trưởng thành. Một buổi sáng, đàn cá hồng bơi ngang qua ngạc nhiên reo lên:
– Ồi, đẹp quá! Ai ngờ cái hòm xù xì kia lại cất giữ cả một kho báu!
Ngay cả lũ ốc hương chậm hoa cũng phải khâm phục thốt lên:
– Hoá ra kiên nhẫn và chịu đựng cũng có thể tạo nên điều kì diệu.
Ả sứa lửa lại trôi qua, đong đưa ngả chiếc dù hồng mơn trớn. Mã Thị thờ ơ im lặng. Tấm vỏ trai đã dày dặn. Những chiếc tua lửa của ả chẳng thể làm tổn thương con trai được nữa.
Từ đó chẳng còn ai chê bai hay lánh xa Mã Thị. Cá ngân, cá mai thường rủ nhau đến chơi quanh. Cá đồng cờ, cá bướm nhờ con trai xoè ngọc để lấy ánh sáng múa vẫy khoe sắc. Có cả mấy chú cá hề màu cam vạch trắng đến làm trò góp vui. Rặng san hô nơi Mã Thị sống đã trở thành một sân khấu biển xanh rực rỡ và tráng lệ.
Câu chuyện về con trai Mã Thị được rừng san hô rì rào kể lại, lan đi khắp rạn đá. Có một người lính cũ yêu và hiểu ngôn ngữ thiên nhiên hôm ấy ra đảo đi tắm biển. Ông lặn xuống rạn san hô, vô tình nghe được. Câu chuyện khiến ông rùng mình đồng cảm, bởi ông cũng từng bị trọng thương trong cuộc chiến chống lại loài diệt chủng. Một mảnh đạn vẫn găm trong thân thể ông như con trai Mã Thị bị cát găm trong ruột.
Trở về phòng mình, ông chong đèn thâu đêm viết lại câu chuyện cảm động về con trai nhỏ trên hòn đảo cô đơn, đã kiên cường biến nỗi đau thành những viên ngọc sáng. Từ đó, hòn đảo này được gọi tên là đảo Minh Châu, nghĩa là viên ngọc sáng nơi địa đầu thân yêu của Tổ quốc chúng ta.
Đặt dấu chấm hết câu chuyện, ông mở cửa sổ nhìn ra biển đêm. Biển vẫn tiếp tục dậy sóng. Có những con trai khác ngoài đó hẳn cũng đang bị thương, cũng đang ôm những hạt cát sắc nhọn. Có kẻ chết trong tuyệt vọng. Có kẻ bọc lên thành ngọc. Tự nhiên không thiên vị ai. Chính lựa chọn của từng sinh linh4 mới quyết định số phận của chính mình.
(Báo Văn nghệ Tết Bính Ngọ, số 6+7+8/ 7-2-2026, tr.31)
Chú thích
1 Nhà văn Trung Sỹ tên thật là Xuân Tùng, sinh năm 1960, quê ở Hà Nội, từng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, có những sáng tác về hồi ức chiến tranh.
2 Mã Thị: tên riêng một loài trai ngọc (chú thích của tác giả).
3 hà: hàu nhỏ sống thành từng đám trên mặt đá ngập nước vùng ven biển.
4 sinh linh: con người sống trong xã hội nói chung.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra từ ngữ, hình ảnh miêu tả tác động của những hạt cát thô, những mảnh vụn vỏ hà sắc lẹm sau khi lọt vào trong lớp vỏ con trai Mã Thị.
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu sắc thái nghĩa của từ run rẩy trong câu văn: Mã Thị rùng mình co lại, run rẩy trong nỗi cô đơn.
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau trong việc khắc hoạ con trai Mã Thị:
Ngày qua ngày, trai Mã Thị tiết ra từng lớp xà cừ mỏng bọc lấy dị vật, bồi đắp dần biến nó thành những tinh cầu long lanh. Mỗi nỗi đau chắt chứa trong lòng đã thành một viên ngọc.
Câu 5. (1,0 điểm) Bày tỏ suy nghĩ của em về một bài học rút ra từ câu văn: Chính lựa chọn của từng sinh linh mới quyết định số phận của chính mình. (Trình bày không quá 07 dòng)
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người lính cũ trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bằng trải nghiệm cá nhân, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân trong cuộc sống.
- Hết -
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI NH 10- NĂM HỌC 2026-2027
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
1. Ban chấm thi căn cứ vào thực tế bài làm của thí sinh để thảo luận, thống nhất Đáp án và hướng dẫn chấm cho phù hợp.
2. Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Đáp án, hướng dẫn chấm và thang điểm để đánh giá chính xác các mức độ đạt được trong bài làm của thí sinh. Đối với những bài làm sáng tạo, lí giải vấn đề theo cách riêng nhưng hợp lí vẫn chấm điểm theo thang điểm của Đáp án.
3. Bài thi được chấm theo thang điểm 10; làm tròn đến hai chữ số thập phân.
B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I/ Đọc hiểu |
1
|
Ngôi kể của văn bản: Ngôi thứ ba. Hướng dẫn chấm: - Trả lời như Đáp án: 0,5 điểm. - Trả lời không đúng Đáp án hoặc không trả lời: 0 điểm. |
0,5 |
|
|
2
|
Từ ngữ, hình ảnh miêu tả tác động của những hạt cát thô, những mảnh vụn vỏ hà sắc lẻm sau khi lọt vào trong lớp vỏ con trai Mã Thị: cứa trên thân nó vô số vết thương đau đớn. Hướng dẫn chấm: - Trả lời như Đáp án: 0,5 điểm. - Trả lời không đúng Đáp án hoặc không trả lời: 0 điểm. |
0,5 |
|
|
3
|
Sắc thái nghĩa của từ run rẩy trong câu văn Mã Thị rùng mình co lại, run rẩy trong nỗi cô đơn: - Gợi ra trạng thái run lên mạnh và liên tiếp, vẻ yếu ớt. - Thể hiện nỗi đau trong tình cảnh đơn độc của con trai; bộc lộ sự xót xa của người kể chuyện đối với Mã Thị. Hướng dẫn chấm: - Trả lời như Đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm. - Trả lời được ý thứ nhất như Đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. - Trả lời được ý thứ hai như Đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm (trong đó trả lời được ý “Thể hiện nỗi đau...": 0,25 điểm; trả lời được ý “bộc lộ sự xót xa...": 0,25 điểm). - Trả lời không đúng Đáp án hoặc không trả lời: 0 điểm. |
1,0 |
|
|
4
|
Ý nghĩa của chi tiết trong việc khắc hoạ con trai Mã Thị: - Thể hiện quá trình thích nghi với nghịch cảnh, biến nỗi đau thành cái đẹp; từ đó cho thấy sự kiên cường, mạnh me của con trai Mã Thị. - Giúp hình ảnh trai Mã Thị hiện lên cụ thể, sinh động. Hướng dẫn chấm: - Trả lời như Đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm. - Trả lời được ý thứ nhất như Đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,75 điểm (trả lời được một trong hai ý: “Thể hiện quá trình...” hoặc “từ đó cho thấy...": 0,5 điểm). - Trả lời được ý thứ hai như Đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,25 điểm. - Trả lời không đúng Đáp án hoặc không trả lời: 0 điểm. |
1,0 |
|
|
5
|
Bày tỏ suy nghĩ về một bài học rút ra từ câu văn Chính lựa chọn của từng sinh linh mới quyết định số phận của chính mình. - Nêu một bài học. Có thể theo một số gợi ý sau: + Cẩn trọng khi đưa ra lựa chọn. + Chịu trách nhiệm với lựa chọn của bản thân. - Bày tỏ suy nghĩ về bài học. Hướng dẫn chấm: - Nêu được một bài học: 0,5 điểm. - Bày tỏ suy nghĩ về bài học: 0,5 điểm. + Bày tỏ suy nghĩ hợp lí: 0,5 điểm. + Bày tỏ suy nghĩ tương đối hợp lí: 0,25 điểm. + Không bày tỏ suy nghĩ: 0 điểm. |
1,0 |
|
II/ Viết |
1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người lính cũ trong văn bản ở phần Đọc hiểu. |
2,0 |
|
|
|
a) Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn nghị luận - Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn nghị luận. - Trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, song song hoặc phối hợp. |
0,25 |
|
|
|
b) Xác định đúng vấn đề nghị luận Nhân vật người lính cũ trong văn bản Hòn ngọc Minh Châu của Trung Sỹ. |
0,25 |
|
|
|
c) Viết đoạn văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu Lựa chọn các thao tác nghị luận phù hợp; kết hợp chặt chẽ lí lẽ và bằng chứng; đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. Có thể triển khai theo hướng: - Phân tích đặc điểm nhân vật người lính cũ: + Từng tham gia chiến đấu và bị thương (bị trọng thương trong cuộc chiến, một mảnh đạn vẫn găm trong thân thể,...). + Tình yêu thiên nhiên sâu sắc; tâm hồn nhạy cảm, tinh tế (yêu và hiểu ngôn ngữ thiên nhiên, câu chuyện khiến ông rùng mình đồng cảm,...). +… - Nêu một số yếu tố nghệ thuật: Ngôi kể thứ ba; chi tiết tiêu biểu; ngôn ngữ gần gũi, giàu hình ảnh;… Hướng dẫn chấm: - Phân tích đặc điểm nhân vật: 1,0 điểm. + Sử dụng lí lẽ xác đáng, bằng chứng phù hợp: 1,0 điểm + Sử dụng lí lẽ tương đối xác đáng, bằng chứng tương đối phù hợp. 0,5-0,75 điểm. + Sử dụng lí lẽ xác đáng, không có bằng chứng: 0,25 điểm. + Không phân tích đặc điểm của nhân vật: 0 điểm. - Nêu một số yếu tố nghệ thuật: 0,25 điểm. + Nêu được yếu tố nghệ thuật: 0,25 điểm. 0,25 + Không nêu yếu tố nghệ thuật: 0 điểm. |
1,25 |
|
|
|
d) Sáng tạo Diễn đạt trôi chảy; suy nghĩ sâu sắc. Hướng dẫn chấm: - Đảm bảo như Đáp án: 0,25 điểm. - Không đảm bảo như Đáp án: 0 điểm. |
0,25 |
|
|
|
đ) Trừ điểm mắc lỗi (chính tả, dùng từ, đặt câu): Từ 4-7 lỗi trừ 0,25 điểm; từ 8-10 lỗi trừ 0,5 điểm; trên 10 lỗi trừ 0,75 điểm. |
|
|
|
2 |
Bằng trải nghiệm cá nhân, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân trong cuộc sống. |
4,0 |
|
|
|
a) Xác định bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận Đảm bảo yêu cầu về bố cục (ba phần: mở bài, thân bài, kết bài) và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn nghị luận. |
0,25 |
|
|
|
b) Xác định đúng vấn đề nghị luận Những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân trong cuộc sống. |
0,25 |
|
|
|
c) Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu Lựa chọn các thao tác nghị luận phù hợp; trình bày hệ thống luận điểm hợp lí; kết hợp chặt chẽ lí lẽ và bằng chứng; đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. Có thể triển khai theo hướng: * Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu sự cần thiết của việc giải quyết vấn đề. * Triển khai vấn đề nghị luận - Giải thích vấn đề: Tự tin khẳng định bản thân: Tin vào chính mình để bộc lộ, chứng tỏ năng lực, phẩm chất. - Phân tích vấn đề: + Nguyên nhân của việc cần giải quyết vấn đề: Tự tin là thái độ sống tích cực; khẳng định bản thân là nhu cầu chính đáng và cần thiết; trong thực tế, một số bạn trẻ còn rụt rè, thụ động;... + Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề: Được sống là chính mình; có cơ hội phát triển và hoàn thiện bản thân; góp phần xây dựng thế hệ trẻ năng động, thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội;... - Trình bày giải pháp: + Hiểu rõ năng lực, phẩm chất của bản thân. + Trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng nhân cách. + Tham gia các hoạt động trong nhà trường và ngoài xã hội. +… - Mở rộng: Phê phán những bạn trẻ tự ti hoặc tự cao; phản bác ý kiến trái chiều;... * Khẳng định lại vấn đề cần giải quyết và rút bài học cho bản thân |
3,0 |
|
|
|
Hướng dẫn chấm: * Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu sự cần thiết của việc giải quyết vấn đề: 0,25 điểm. * Triển khai vấn đề nghị luận: 2,5 điểm. - Giải thích: 0,25 điểm. - Phân tích vấn đề: 1,0 điểm. + Nguyên nhân của việc cần giải quyết vấn đề: 0,5 điểm (Đảm bảo hai trong ba ý như Đáp án: 0,5 điểm; đảm bảo một trong ba ý như Đáp án: 0,25 điểm). + Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề: 0,5 điểm (Đảm bảo hai trong ba ý ý như Đáp án: 0,5 điểm; đảm bảo một trong ba ý như Đáp án: 0,25 điểm). - Trình bày giải pháp: 1,0 điểm. + Trình bày từ hại giải pháp trở lên, lí lẽ thuyết phục, bằng chứng tiêu biểu: 1,0 điểm. + Trình bày từ hai giải pháp trở lên, lí lẽ tương đối thuyết phục, bằng chứng tương đối phù hợp hoặc đề xuất một giải pháp nhưng lí lẽ thuyết phục, bằng chứng phù hợp: 0,5 - 0,75 điểm. + Giải pháp thiếu tính khả thi, không có bằng chứng: 0,25 điểm. + Không trình bày giải pháp: 0 điểm. - Mở rộng: 0,25 điểm. * Khẳng định lại vấn đề cần giải quyết và rút ra bài học cho bản thân: 0,25 điểm. |
|
|
|
|
d) Sáng tạo Diễn đạt trôi chảy; suy nghĩ mới mẻ, sâu sắc. Hướng dẫn chấm: - Đảm bảo như Đáp án: 0,5 điểm - Đảm bảo một yêu cầu như Đáp án: 0,25 điểm - Không đảm bảo như Đáp án: 0 điểm |
0,5 |
|
|
|
đ) Trừ điểm mắc lỗi (chính tả, dùng từ, đặt câu): Từ 5-8 lỗi trừ 0,25 điểm; từ 9-12 lỗi trừ 0,5 điểm; từ 13-15 lỗi trừ 0,75 điểm; trên 15 lỗi trừ 1,0 điểm. |
|
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Nhiều người quan tâm
Bài viết gần đây
Danh mục
Để lại bình luận