Bộ đề thi giữa kì đọc hiểu tùy bút, tản văn 2025

Đề 1: 

I. ĐỌC HIỂU (5 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

CHUYỆN CƠM HẾN

[…] Trước hết, nói về cơm. Người Việt mình ăn cơm kiểu nào cũng phải nóng, duy chỉ cơm hến nhất thiết phải là cơm nguội. Hình như người Huế muốn bày tỏ một quan niệm rằng trên đời chẳng có một vật gì đáng phải bỏ đi, nên bày ra món cá lẹp kẹp rau mưng, và món cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn làm sốt ruột người chế biến món ăn, gọi là cơm hến. Sau này ở Huế người ta bày thêm món bún hến, dùng bún thay cơm nguội. Tôi rất ghét những lối cải tiến tạp nham như vậy. Bún đã có bún bò, ai có giang sơn nấy, việc gì phải cướp bản quyền sáng chế của người khác. Vả lại, người Huế (Huế xưa, không phải bây giờ) rất kiên định trong “lập trường ăn uống” của mình. Tôi nghĩ rằng trong vấn đề khẩu vị, tính bảo thủ là một yếu tố văn hoá hết sức quan trọng, để bảo toàn di sản. Với tôi, một món ăn đặc sản cũng giống như một di tích văn hoá, cứ phải giống y như nghìn xưa, và mọi ý đồ cải tiến đều mang tính phá phách, chỉ tạo nên những “đồ giả”!

      […] Hương vị bát ngát suốt đời người của tô cơm hến là mùi ruốc thơm dậy lên tận óc, và vị cay đến trào nước mắt. Người “máu” cơm hến vẫn chưa vừa lòng với vị cay sẵn có, còn đòi thêm một trái ớt tươi để cắn kêu cái rốp! Nước mắt đầm đìa, mồ hôi ròng ròng nhỏ giọt vào tô cơm, thế mà cứ sì sụp, xuýt xoa kêu “ngon, ngon!”; đi xa nhớ lại thêm tới đứt sợi tóc, ở nước ngoài về bay ra Huế để ăn cho được một tô cơm hến lấy làm hả hê, thế đấy, chao ôi là Huế!

Tôi nhớ lần ấy, chiều mưa râm ri cữ tháng mười một, tôi ngồi ăn cơm hến ở nhà Bửu Ý ở đường Hàng Me. Tôi vừa đi Tây về, suốt hai tuần ở cùng đại hội các nhà văn, bữa ăn nào cũng toàn thịt, bơ, pho mát..., đến nỗi tôi thất kinh, nhiều ngày chỉ mang một mớ trái cây về phòng, ăn trừ bữa. Nhiều tuần lễ không có một hột cơm trong bụng, nghe tiếng rao cơm hến, tôi thấy xúc động tận chân răng. Đây là lần đầu tiên, tôi ăn một tô cơm hến bằng tất cả tâm hồn. Thấy chị bán hàng phải cho quá nhiều thứ trong bát cơm nhỏ, công thế mà chỉ bán có năm đồng bạc, tôi thấy làm ái ngại hỏi chị:

Lời lãi bao nhiêu mà chị phải công kỹ đến thế. Chỉ cần ba bốn thứ, vừa vừa thôi, có đỡ mất công không? Chị nhìn tôi với đôi mắt giận dỗi rất lạ: Nói như cậu thì... còn chi mà là Huế!

Chị gánh hàng đi, dáng gầy mỏng manh, chiếc áo dài đen cũ kỹ, chiếc nón cời và tiếng rao lanh lảnh, bây giờ tôi mới phát hiện thêm vị thứ mười lăm, là lửa. Vâng, một bếp lửa chắt chiu, ấp ủ đi trong mưa suốt mùa đông, bền bỉ theo bước chân người…

(Trích trong “Huế – Di tích và con người”, Hoàng Phủ Ngọc Tường, NXB Đà Nẵng, 2003)

Trả lời các câu hỏi sau:

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định đề tài của văn bản.

Câu 2. (0,5 điểm) Theo văn bản, khi vừa đi Tây về, nghe tiếng rao cơm hến, tâm trạng của tác giả như thế nào?

Câu 3. (1,0 điểm) Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: “Với tôi, một món ăn đặc sản cũng giống như một di tích văn hoá, cứ phải giống y như nghìn xưa, và mọi ý đồ cải tiến đều mang tính phá phách, chỉ tạo nên những “đồ giả”! 

Câu 4. (1,5 điểm) Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình được thể hiện trong văn bản?

Câu 5. (1,5 điểm) Từ nội dung văn bản, anh/ chị hãy đề xuất hai giải pháp góp phần lưu giữ các món ăn truyền thống của dân tộc

II. VIẾT (5,0 điểm)

Nữ diễn viên, ca sĩ người Mỹ, Sheryl Lee Ralph từng nói:“Mọi người không có nghĩa vụ phải thích bạn. Mọi người không có nghĩa vụ phải yêu thương bạn.Thậm chí, họ chẳng cần phải tôn trọng bạn. Nhưng khi bạn nhìn vào gương, bạn nên yêu những gì bạn thấy.”

Viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.

ĐỀ 2:

Đọc văn bản sau:

MỒ HÔI TỪ BIỂN - Dương Thắng

     [..] Tôi vẫn thoáng bần thần, xa xăm nhớ những giọt mồ hôi thấm vào biển, những tháng ngày tuổi thơ tôi bên biển khi tháng ba, ngày tám ru mưa bay thầm thĩ vào lòng. Biển quê tôi đẹp lắm, hồn hậu, bao dung, ôm ấp, chảy tràn nhớ, chảy tràn thương mỗi khi vỗ về tôi, thao thức tôi.

     Tháng ba, cho đến bây giờ vẫn chưa khi nào ngớt chút se lạnh, chút âm u, chút miên man cỏ cây, hoa lá. Tháng ba, đủ ẩm ướt cho cây cối sinh sôi, đủ dầm dề cho lòng người tĩnh lại. Tôi thương những cánh hoa rơi rụng, rét mướt trong mưa. Tôi thương bước chân mẹ bấm vào lòng đất mỗi mùa đi biển. Biển cho mẹ quãng đời gắn bó nông sâu, biển cho tôi những ngày đằng đẵng, mong ngóng, dõi theo những lam lũ, nhọc nhằn của mẹ.

      Mẹ đi biển, gắn bó cả đời với biển vì kiếm kế, sinh nhai. Vì củ sắn, củ khoai nhọc nhằn nuôi đàn con thơ qua tháng ba, ngày tám. Một năm hai vụ lúa, nhà đông miệng ăn nên những lúc nông nhàn mẹ chỉ biết đến biển, nơi lồng lộng gió, lồng lộng mưa, lồng lộng bãi bờ. Mẹ đi theo con nước thủy triều, lúc đi từ tinh mơ, gà gáy, khi đi từ buổi trưa và tối muộn mới trở về nhà. Đứa trẻ tôi bao buổi sớm lần tìm hơi mẹ mà bâng khuâng, ngơ ngác. Có lúc tôi sợ sệt hỏi mẹ: mẹ ơi, mẹ đi như thế nếu con nước thủy triều lên mẹ không kịp chạy thì làm thế nào? Mẹ chỉ xoa đầu tôi cười rồi nói, mẹ đi theo con trăng, các cụ từ xưa đến giờ cũng vậy, không phải lo đâu con ạ! Cứ thế, tôi dần quen khi không có mẹ ở bên, cứ thế tôi dần quen với mưa phùn, gió bấc.

[..] Hôm nào trước khi đi tôi cũng phải hỏi hôm nay mẹ bắt cá ở đoạn nào để con đón. Có hôm, đi sớm tôi tha thẩn trên đê đứng cả tiếng đồng hồ chờ mẹ. Nhìn đàn bò gặm cỏ, nhìn đàn chim dáo dác bay về bỗng có những cảm giác trống rỗng khó tả. Biển không có bờ, muôn đời là vậy, biển bao la đến khôn cùng, tôi chẳng thể nhìn thấy một bóng người. Tôi chạy xuống những gò cát dài nối ven đê. Gò cát rộng quá. Sau bao nhiêu năm những tinh túy của biển dồn về đây. Cát phẳng lặng, nhẹ tênh khi gió thổi. Cát êm ả, mịn màng như đã thấm đượm những lẽ đời vốn có tự nhiên. Tôi nhún mình trên cát, cát lún dưới chân như thầm nhắc, dù cuộc sống sụt lún, chao đảo sau cùng vẫn trở lại êm đềm. Kia rồi, những bóng người nhỏ xíu như những đốm mưa đang lớn dần. Giữa mênh mông họ có khác gì hạt cát. Bé lắm, bé vô cùng. Tôi nhìn theo không chớp mắt. Mẹ vẫn không thể lẫn, vẫn chiếc áo mưa nửa kín nửa hở gió vỗ kêu phành phạch, vẫn chiếc nón mê cụp xuống với đôi quai buộc chặt. Nhìn thấy mẹ, tôi mừng lắm, bao nôn nao, thấp thỏm trở lại yên bình.

 [...] Có lẽ, thật khó để đếm hết những giọt mồ hôi đã rơi tràn muối biển. Mồ hôi là vô hình nhưng mồ hôi vẫn đậu trên gò má, trên cánh tay gầy. Màu rám nắng, vị phù sa lúc nào cũng đâu đây bên tôi. Tôi vùi đầu trong mùi vị ấy, thoang thoảng nhớ, thoang thoảng thương mỗi độ tháng ba về.

           (https://baovannghe.vn/mo-hoi-tu-bien-tan-van-cua-duong-thang-20334.html)

Trả lời các câu hỏi sau:

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định đề tài của văn bản.

Câu 2. (0,5 điểm) Theo văn bản, người mẹ cả đời gắn bó với biển vì điều gì?

Câu 3. (1,0 điểm) Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: Một năm hai vụ lúa, nhà đông miệng ăn nên những lúc nông nhàn mẹ chỉ biết đến biển, nơi lồng lộng gió, lồng lộng mưa, lồng lộng bãi bờ. 

Câu 4. (1,5 điểm) Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình được thể hiện trong văn bản?

Câu 5. (1,5 điểm) Em có đồng ý với quan điểm của người viết “Cát lún dưới chân như thầm nhắc, dù cuộc sống sụt lún, chao đảo sau cùng vẫn trở lại êm đềm” không? Vì sao?

- Em đồng ý với quan điểm của người viết. .

+ Hình ảnh “cát lún rồi trở lại êm đềm” mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc: cuộc sống con người cũng có lúc gian nan, chao đảo, nhưng sau cùng, mọi tổn thương đều có thể lắng lại, bình yên sẽ trở về nếu ta biết kiên trì nỗ lực và lạc quan.

II. VIẾT (5,0 điểm)

Trong cuốn sách Tĩnh lặng là dáng vẻ đẹp nhất của bạn, Hạ Thiên có viết:“Hãy cứ là chính mình, có kỳ lạ một chút cũng chẳng sao.”

Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận, trình bày suy nghĩ về ý kiến trên.

ĐỀ 3:

  1. ĐỌC HIỂU (5 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

Giữa trưa đầy nắng Sài Gòn, chị bán cà phê vỉa hè chợt nói, sắp tháng chạp rồi nè. Thốt nhiên lòng se lại. Ừ nhỉ, tháng chạp sắp về rồi. Mưa phùn sắp về với Hà Nội rồi. Tôi đã đi qua hầu khắp những miền quê có mưa phùn. Chẳng biết có thiên vị không, trước sau tôi vẫn đinh ninh nói đến mưa phùn là người ta nhớ ngay đến Hà Nội.

[…]

Đúng là mưa nhưng không phải mưa. Không thấy hạt mưa nào cả, chỉ thấy những màn hơi lành lạnh nhẹ không, trắng mờ như hơi nước phả trên kính giăng rộng khắp nơi. Đường khô áo khô nhưng tóc và lá cây lấm tấm những giọt nhỏ tí xíu trong

Đúng là sương nhưng không phải sương, trắng mờ mênh mang như sương mà bay bay như mưa, rơi rơi như mưa. Bay dạt dào trên dòng sông cánh đồng ao hồ, bay nghiêng nghiêng trên đường phố rộng dài, bay thẳng đứng trong hẻm nhỏ ngõ nhỏ để rồi rơi phơ phất trên những tàng cây. Giọt giọt rơi từ lá, chảy ngoằn ngoèo trên nhng thân cây khô ráo.

Và lạnh. Mùa đông sương sớm lạnh giá, cái lạnh rin rín nước. Mùa đông mưa lạnh buốt, cái lạnh sũng nước. Không như sương không như mưa, mưa phùn man mát lành lạnh, cái lạnh thanh thanh. Mưa phùn đủ lạnh để cho ta khi cầm tay nhau, áp vào má nhau, sà vào lòng nhau… bỗng thấy ấm áp lạ thường.

Mưa phùn là vậy đó nhưng chỉ có ở Hà Nội mới cảm được hết, không biết vì sao. Có lẽ mưa phùn ở đây ít bị pha tạp bởi sương mù, gió bấc. Cũng có thể Hà Nội hợp với mưa phùn, tưởng động mà tĩnh, tưởng lạnh mà mát, lặng lẽ nhẹ nhàng không hề vướng víu tiếng ồn như người Hà Nội… Mới hiểu vì sao ở đâu cũng thích mưa phùn, thích nhất vẫn là người Hà Nội.

Tôi có mưa phùn tuổi 18 ngày hoà bình đầu tiên, áo trấn thủ với áo bông hoa dung dăng dung dẻ dọc Bờ Hồ, tay thô ráp quê mùa nắm tay thon mềm dưới gốc cây Vô Ưu cổng đền Ngọc Sơn… Mưa phùn thấm vào má nhau, rọi vào mắt nhau, cuộn vào tóc nhau… ôi nhớ!.

Nhớ thời bao cấp tuổi 22 áo đại cán với áo len tím, tuổi 26 áo bay Liên Xô với áo phao ni lông hồng phớt, thời mở cửa tuổi 30 áo Nato với áo lông trắng, tuổi 34 áo da với áo Bomber Jacket xanh da trời… Cứ mùa mưa phùn là nhớ Hà Nội đến buốt tim.

[…]

Thương nhớ nghìn năm mưa phùn Hà Nội. Lý Thường Kiệt cưỡi ngựa trắng vượt sông Như Nguyệt về Thăng Long đưa tin đại thắng đả Tổng phá Khâm Ung Liêm. Người ngựa như bay trong mưa phùn tháng chạp Ất Mão Trong mưa phùn tháng chạp Kỷ Dậu 1789 Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc tìm cành đào Nhật Tân tặng công chúa Ngọc Hân, voi trận và cành đào như bơi trong ức vạn tấm voan mưa bay. Trong mưa phùn tháng chạp Bính Tuất 1946 “rộn ràng Đồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ. Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai”… máu thấm trong mỗi hạt mưa xuân. Mưa phùn năm ấy đượm màu máu đào ướt lạnh. Trong mưa phùn tháng chạp Nhâm Tý 1972 Hà Nội bị thương bởi B52, những em bé Hà Nội đội khăn tang đi tìm người thân, chập chờn trong màn mưa giăng những chiếc khăn tang trôi cùng những cành đào. Chẳng phải giáo điều, cái gì cũng gán cùng lịch sử, chỉ vì lịch sử Hà Nội dường như là lịch sử của những tháng chạp mưa phùn, lạ thế…

(Thương nhớ mưa phùn, Nguyễn Quang Lập, in trong

Những tản văn suýt bị bỏ quên của Bọ Lập, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2021)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định đề tài của văn bản?

Câu 2. (0,5 điểm) Dựa vào văn bản, hãy cho biết điều gì đã khiến tác giả nghĩ tới mưa phùn Hà Nội?

Câu 3(1,0 điểm) Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu “Không thấy hạt mưa nào cả, chỉ thấy những màn hơi lành lạnh nhẹ không, trắng mờ như hơi nước phả trên kính giăng rộng khắp nơi.
Câu 4(1,5 điểm) Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình được thể hiện trong văn bản?

Câu 5(1,5 điểm) Văn bản trên đã để lại cho anh/ chị những suy ngẫm gì trong cách cảm nhận cuộc sống?

 

  1. VIẾT (5,0 điểm)

Trong cuốn sách Yêu những điều không hoàn hảo, Đại đức Haemin có viết :Chấp nhận và yêu thương chính mình là nền tảng của mọi hạnh phúc

Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận, trình bày suy nghĩ về ý kiến trên.

 

Nhận xét từ người dùng

Chatbot Icon
Trợ Lý Văn Học ×
SALE - 70% Shopee