Bộ đề đọc hiểu văn bản thông tin ngữ văn 11

ĐỀ 1: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ THĂNG HOA CÙNG THỜI GIAN

    TTXVN - Năm 2023 đánh dấu chặng đường 20 năm Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Suốt chặng đường đó, chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế cùng những người làm công tác văn hóa, đặc biệt là các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhạc công Nhã nhạc cung đình Huế đã không ngừng nghỉ bảo tồn, phát huy di sản.

Chặng đường di sản

Chương trình nghệ thuật với chủ đề “Di sản Cố đô, Ký ức và Trao truyền”. (Ảnh: Đỗ Trưởng/TTXVN)

      Khác với ca trù phát sinh từ dân gian rồi vào cung đình, Nhã nhạc có quá trình hình thành, lan tỏa trái ngược và được UNESCO đánh giá là loại hình âm nhạc duy nhất đạt tới tầm vóc quốc gia trong các thể loại nhạc cổ truyền.

     Nhã nhạc cung đình xuất hiện vào những năm đầu của triều Lý (1010 - 1225). Tuy nhiên, phải đến thời Nguyễn (1802 - 1945), loại hình âm nhạc này mới thực sự phát triển rực rỡ. Âm nhạc của Nhã nhạc cung đình tao nhã, thiêng liêng thường dùng trình diễn trong các dịp đại lễ trang nghiêm của triều đình, cúng tế thần linh và không thể thiếu dưới triều đại bấy giờ. Từ đây, Nhã nhạc gắn liền với cung đình Huế và phát triển theo mô thức quy phạm đúng chuẩn, bài bản với hàng trăm nhạc chương. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung vào năm 1945, Nhã nhạc cung đình Huế đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.

     Từ năm 1992, công tác bảo tồn Nhã nhạc cung đình được triển khai và dần được thế giới biết đến. Năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể tại Thừa Thiên - Huế. Tại đây, một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã nhạc cung đình Huế được đệ trình UNESCO. Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa và Thông tin cùng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lập hồ sơ ứng cử cấp quốc gia Nhã nhạc Huế - Nhạc Cung đình Việt Nam đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của thế giới.

    Giáo sư Trần Văn Khê là người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế (âm nhạc cung đình Việt Nam) đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Không chỉ góp phần hoàn thiện bộ hồ sơ đệ trình, sinh thời, giáo sư còn ghi dấu khi trực tiếp giới thiệu, chơi nhạc cụ truyền thống trước các bạn bè quốc tế.

    Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc - âm nhạc cung đình Việt Nam được UNESCO vinh danh là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (từ năm 2008 gọi là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) và là di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận. Từ đây, Việt Nam có chương trình hành động quốc gia nhằm bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị loại hình âm nhạc này.

                         https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/nha-nhac-cung-dinh-hue-thang-hoa-cung-thoi-gian/20037.html

Câu 1: Theo tác giả, ai là người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế đệ trình UNESCO?

Câu 2: Xác định kiểu văn bản và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của các yếu tố hình thức trong văn bản trên.

Câu 4: Xác định cách trình bày dữ liệu, thông tin của văn bản. Chỉ ra hiệu quả của cách trình bày ấy.

Câu 5: Em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Nhã nhạc cung đình Huế trước bối cảnh văn hóa hội nhập. Đề xuất hai giải pháp cụ thể góp phần bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa này.

 

ĐỀ 2:

KHÁM PHÁ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI MĨ SƠN

      ĐCSVN) - Mang ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn, Khu di tích đền tháp Mỹ Sơn có một vị trí rất quan trọng trong nền văn hóa nghệ thuật của vùng Đông Nam Á. Trước những giá trị nổi bật toàn cầu của một di sản văn hóa cần phải được bảo vệ vì lợi ích của cả nhân loại, ngày 4/12/1999, Di tích này được Uỷ ban Văn hoá Khoa học Giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hoá thế giới.

     Khu di tích Mỹ Sơn thuộc địa phận xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70 km về hướng tây nam. Di tích tọa lạc trong một thung lũng kín có địa thế núi non hùng vĩ, thâm nghiêm ở tỉnh Quảng Nam, được khởi công từ thế kỷ IV bởi vị vua Bhadravarman (trị vì từ năm 349 đến năm 361) và kết thúc vào cuối thế kỷ thứ XIII, đầu thế kỷ XIV dưới triều vua Jaya Simhavarman III (Chế Mân). 

 

Mỹ Sơn tráng lệ, thâm nghiêm, hùng vĩ.

     Nơi đây, 70 công trình đền tháp kết tinh giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật của nền văn minh Chămpa, được đánh giá ngang hàng với các di tích nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á như Borobudur (Indonesia), Pagan (Myanmar), Angkor Wat (Campuchia), là kết tinh của những giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật được tạo lập trong suốt chiều dài 9 thế kỷ (từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XIII). Mặc dù bị thời gian và chiến tranh tàn phá nặng nề, nhưng những gì còn lại ở Mỹ Sơn vẫn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong di sản lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật thế giới.

     Với lịch sử xây dựng và phát triển liên tục qua nhiều thế kỷ, các đền tháp thể hiện sự đa dạng các phong cách kiến trúc nhưng nhìn chung đều ở tư thế cao vút biểu trưng cho sự vĩ đại và thanh khiết của ngọn núi Mêra, nơi cư ngụ của các vị thần và là trung tâm của vũ trụ. Những di tích của khu đền tháp Mỹ Sơn là những công trình quan trọng nhất của nền văn hóa Chămpa. Hầu hết các công trình được kết cấu bằng gạch nung với trụ đá và trang trí những phù điêu sa thạch thể hiện các giai thoại Ấn Độ. Minh chứng kỹ thuật của đền tháp là sự hiện hữu của các kỹ xảo Chăm trong khi sự biểu trưng của các họa tiết và biểu tượng của đền tháp ẩn chứa trong đó nội dung các giai đoạn chính trị và tôn giáo Chămpa.

       Trong số các dạng kiến trúc tháp Chăm, kiến trúc dạng quần thể thánh địa Mỹ Sơn là độc đáo và hiếm có. Được bố trí theo cụm, từ hai hoặc nhiều tháp. Có tường bao, sân, đường đi nối các tháp với nhau. Mỗi tháp có mỗi chức năng riêng. Tập trung thành từng nhóm, trong đó có đền thờ chính nằm ở giữa, mỗi nhóm đều được bao quanh bởi những bức tường khá dày cũng bằng gạch. Cửa chính của tháp chính phần lớn quay về hướng Đông (hướng về thần linh). Một vài tháp lớn chính có thêm cửa hướng Tây. Trước mặt đền thờ chính (Kalan) là một tháp cổng (Gopura) với cấu trúc nhỏ của hai cửa thông nhau: một cửa về hướng Đông, một cửa hướng vào đền chính, tiếp với tháp cổng thường là căn nhà dài (Mandapa) có mái lợp ngói, bên trong rộng rãi vốn là nơi đón khách hành hương và tiếp nhận lễ vật cũng như cử hành các vũ điệu trong lễ cúng hiến cho thần linh.

        (https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/kham-pha-di-san-van-hoa-the-gioi-my-son-637552.html)

Câu 1: Theo văn bản, khu di tích Mỹ Sơn thuộc tỉnh nào của nước ta?

Câu 2: Xác định kiểu văn bản và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của các yếu tố hình thức trong văn bản trên.

Câu 4: Xác định cách trình bày dữ liệu, thông tin trong đoạn trích “Trong số các dạng kiến trúc tháp Chăm, kiến trúc dạng quần thể thánh địa Mỹ Sơn là độc đáo và hiếm có.... nơi đón khách hành hương và tiếp nhận lễ vật cũng như cử hành các vũ điệu trong lễ cúng hiến cho thần linh.”. Chỉ ra hiệu quả của cách trình bày ấy.

Câu 5: Em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Khu di tích Mỹ Sơn trước bối cảnh văn hóa hội nhập. Đề xuất hai giải pháp cụ thể góp phần bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa này.

ĐỀ 3:

VỊNH HẠ LONG LẦN ĐẦU ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI

          Vịnh Hạ Long nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 1.553 km2 bao gồm 1.969 hòn đảo (trong đó 980 hòn đảo đã có tên). Nơi đây là vùng biển đẹp nổi tiếng trên thế giới và rất giàu tiềm năng cho phát triển du lịch với cảnh quan thiên nhiên tuyệt sắc và những hệ sinh thái điển hình, độc đáo.

        Ngày 17/12/1994, tại Kỳ họp lần thứ 18 tổ chức tại Phuket (Thái Lan), Hội đồng Di sản thế giới của Tổ chức UNESCO – Liên hợp quốc đã chính thức công nhận Vịnh Hạ Long vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mỹ của Công ước Quốc tế về bảo vệ di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới.

      Căn cứ vào nội dung hồ sơ khoa học về Vịnh Hạ Long do Bộ Văn hoá - Thông tin, UBND tỉnh Quảng Ninh và Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam xây dựng từ năm 1992 và các ý kiến đánh giá thẩm định của các tổ chức chuyên môn quốc tế, Hội đồng Di sản thế giới đã xếp Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới trong số 10 Di sản văn hoá thế giới được chính thức công nhận năm 1994.

       Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng với cả nước, bởi sau Cố đô Huế (được công nhận là Di sản văn hoá thế giới tại Kỳ họp lần thứ 17 của Hội đồng Di sản thế giới diễn ra đúng một năm trước đó, tháng 12/1993) thì lần này, Vịnh Hạ Long là địa danh thứ hai của nước ta được xếp vào danh mục Di sản thế giới bởi giá trị ngoại hạng về phương diện cảnh quan, thẩm mĩ. 

      Sau lần thứ nhất được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới vào năm 1994, đến ngày 29/11/2000, Vịnh Hạ Long tiếp tục được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới về giá trị địa chất, địa mạo. Việc Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ 2 một lần nữa khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của Vịnh Hạ Long. Đây là khu vực có các quá trình địa chất đặc biệt, có đặc điểm nổi bật về địa mạo, đồng thời là khu vực có cảnh quan thiên nhiên ngoại hạng và có giá trị đặc biệt về thẩm mĩ. Với những giá trị cảnh quan đặc sắc riêng có, Vịnh Hạ Long là điểm nhấn của ngành du lịch, một trong những động lực tăng trưởng của nền kinh tế Quảng Ninh.

     Đối với Quảng Ninh, sự kiện này càng đặc biệt có ý nghĩa, nhất là trong thời điểm Du lịch Quảng Ninh đang bắt đầu có sự chuyển động theo hướng tích cực. Theo số liệu thống kê, nhịp độ tăng trưởng của Du lịch Quảng Ninh từ năm 1991-1995 như sau: Tổng số lượt khách tăng bình quân 47%/năm (trong đó khách quốc tế tăng bình quân lên tới 80%/năm); tổng doanh thu của ngành tăng bình quân 54%/năm (trong đó doanh thu từ dịch vụ du lịch tăng tới 81%/năm); ngành Du lịch nộp ngân sách tăng bình quân 80%/năm…

       Đặc biệt, ngày 11/11/2011, Vịnh Hạ Long vượt qua 200 kỳ quan từ hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được Tổ chức New7wonders công nhận là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới năm 2011.

      Với những danh hiệu này, Vịnh Hạ Long đã thực sự trở thành thương hiệu nổi tiếng của du lịch Quảng Ninh, của Việt Nam và của thế giới; là niềm tự hào của nhân dân Quảng Ninh và là điểm đến được lựa chọn hàng đầu của du khách trong nước và quốc tế.

(Nguồn:https://baoquangninh.vn/vinh-ha-long-lan-dau-duoc-cong-nhan-la-di-san-thien-nhien-the-gioi-3248511.html)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính và kiểu loại văn bản của văn bản trên.

Câu 2: Nêu mục đích của người viết được thể hiện trong văn bản trên.

Câu 3: Xác định cách trình bày thông tin của văn bản? Nêu tác dụng của cách trình bày ấy?

Câu 4: Xác định thái độ của người viết được thể hiện trong văn bản.

Câu 5: Ông Nguyễn Văn Quynh - chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho rằng: “ Di sản thế giới vịnh Hạ Long không bình yên. Tính toàn vẹn của di sản này đang bị những tác động “vô tư” từ nhiều phía.” Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Đề xuất một số giải pháp góp phẩn bảo vệ Di sản thiên nhiên thế giới này?

 

Nhận xét từ người dùng

Chatbot Icon
Trợ Lý Văn Học ×
SALE - 70% Shopee